Báo Cáo 2009

Bản Phân Tích TTCK Việt Nam 2009
http://www.dieucai.wordpress.com

1. tình hình kinh tế – tài chính trong nước

- quý 1 sẽ tồi tệ hơn người ta tưởng:
-
sản xuất công nghiệp tháng 1/2009 theo giá so sánh 1994 ước tính giảm 4,4% so với cùng kỳ năm trước:

> khu vực kinh tế nhà nước giảm 8,5%
> khu vực kinh tế ngoài nhà nước giảm 2,8%
> khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm 3,2%
> dầu mỏ và khí đốt tăng 14,6%, các sản phẩm khác giảm 4,8%
> Đồng Nai chỉ tăng 1,9%; Tp.HCM tăng 0,3%; Cần Thơ tăng 0,2%; Vĩnh Phúc giảm 24,7%; Phú Thọ giảm 19,5%; Quảng Ninh giảm 7,4%; Hải Dương giảm 7,1%; Hà Nội giảm 6,4%; Đà Nẵng giảm 4,9%; Bình Dương giảm 4,3%

những dấu hiệu trên cho thấy GDP quý 1 sẽ là quý giảm, với mục tiêu tăng trưởng GDP 6% quả là xa vời.
chúng tả sẽ phải chợ đợi xem gói kích cầu sẽ tăng thêm bao nhiêu nữa, hiệu quả ra sao. tất cả còn nằm phía trước. trước đây chúng ta đã kỳ vọng nhiều chính sách khuyến khích kinh tế ra đờI sẽ làm cho tt tăng lên, theo quan điểm của diều cái là tt có song thì tham gia, không có sóng thì ra ngòai chờ đợi.

Sự chuyển động của nền kinh tế cho thấy gần như chắc chắn quý 1 sẽ là quý bắt đầu giảm sút nghiêm trọng. Ttck phụ thuộc cơ bản vào nền kinh tế. nên gần như không thể tránh khỏI một đợt suy giảm nữa. giai đọan suy giảm sẽ kéo dài hơn.

Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện tháng 1/2009 cũng cho thấy có sự suy giảm tăng trưởng so với cùng kỳ năm ngoái, ước tính đạt 6,4 nghìn tỷ đồng, bằng 5,7% kế hoạch năm. Con số tương ứng của tháng 1/2008 là 6,6 nghìn tỷ đồng và 6,7%. trong khoản vốn đầu tư ngân sách này cho thấy trong tháng 1 chưa có khoàn đầu tư kích cầu. thực sự 2009 sẽ là 1 năm mà chính phủ phải dầu tư từ ngân sách và tạo ra thâm hụt lớn. với mức dự tính chi ra gần 600 nghìn tỷ trong năm nay và thâm hụt lên đến 10% quả thực không phải là vốn đề dễ dàng. trong khi đó nguồn thu dưới đây giảm mạnh.

những gói kích cầu thực sự chảy vào kinh tế phảI ít nhất là quý 2 mớI làm tăng đầu tư nhà nước. trong bài báo cáo phân tích này cũng sẽ chỉ ra sự tăng trưởng của việt nam sẽ gặp nhưng trở ngạI và sai lầm khó tránh khỏi.

Tổng thu ngân sách Nhà nước 15 ngày đầu tháng 1/2009 ước tính bằng 2,4% dự toán năm (con số tương ứng của tháng 1/2008 là 3,8%), trong đó các khoản thu nội địa bằng 2,9%; thu từ dầu thô bằng 1,6%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 1,9%.

- Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 1/2009 ước tính chỉ đạt 3,8 tỷ USD, giảm 18,6% so với tháng 12/2008 và giảm 24,2% so với cùng kỳ năm trước:
> dệt, may giảm 33,2%; dầu thô giảm 52,4% do giá xuất khẩu dầu thô giảm 57,7%; giày dép giảm 26%; thủy sản giảm 18,6%; cà phê giảm 30,2%; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 31,8%

- Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 01/2009 ước tính đạt 4,1 tỷ USD, giảm 27,6% so với tháng trước và giảm 44,8% so với cùng kỳ năm 2008.
> kim ngạch nhập khẩu hầu hết các mặt hàng phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước đều giảm trong tháng 1/2009. Cụ thể, máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng giảm 19,5%; xăng dầu giảm 75,2% do giá giảm 56,2%; hàng điện tử, máy tính và linh kiện giảm 45,1%; sắt thép giảm 82,3%; chất dẻo giảm 53%; nguyên phụ liệu dệt, may, da giảm 35,9%

như vậy thâm hụt thương mại tháng 1 chỉ 300 triệu usd. chiều hướng nhập khẩu sẽ diệu đi trong năm nay, các mặt hàng chủ chốt như xăng dầu, ô tô, hàng điện tử sẽ có xu hướng không tăng nhiều, tình hình kinh tế chung. các ngành trong tốp xuất khẩu dự báo cả nămg nay sẽ vẫn phải gặp khó khăn nhiều. nếu xét mua các cổ phiếu chúng ta còn trong đợi thời cơ và doanh nghiệp trong gói kích cầu và doanh nghiệp có tt trong nước. và nhóm hàng hóa có tăng trưởng trong năm nay.

- khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 370 nghìn lượt người, giảm 11,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch đạt 231,5 nghìn lượt người, giảm 10,5%; đến vì công việc đạt 65 nghìn lượt người, giảm 17,6%; thăm thân nhân đạt 55 nghìn lượt người, giảm 1,2%

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 1/2009 theo giá thực tế ước tính đạt 98,5 nghìn tỷ đồng, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm 2008.
Nhưng nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 1 chỉ tăng 8,2%, thấp hơn mức tăng 11,7% của cùng kỳ năm trước
doanh số bán hàng hóa vẫn tăng, tuy nhiên khó xác định rõ ràng và yếu tố CPI trong năm 2008 đã chiếm phần lớn tăng trưởng này. một phần quan trọng đó là tết nguyên đáng làm sức mua tăng, và chúng ta chờ đợi doanh số 2 tháng tiếp theo của quý 1 năm nay.

- giá tiêu dùng tháng 1/2009 tăng 0,32% so với tháng trước (CPI). Sau 3 tháng giảm nay giá tiêu dung có tháng tăng đầu tiên trong năm 2009 này, phần tăng này chủ yếu do tết, nếu đúng vậy thì qua tháng sau tết (tháng 3) CPI sẽ lạI phảI giảm.
nói chung, giá tiêu dùng diễn biến theo chiều hướng trong vòng 3 năm tớI không có gì đang lo ngạI, cái đáng lo ngạI đó chính là, sự tăng trưởng của vn sau này sẽ gặp bất trắc (phân tích ở phần đánh giá kinh tế vĩ mô)

- đầu tư nước ngoài giảm nghiêm trọng:
DTNN giảm trong tháng 1 chỉ còn 200 triệu vốn đăng ký giảm 8,5 lần, báo hiệu 1 năm giảm tốc mạnh mẽ. chắc chắn chúng ta sẽ phảI chứng kiến một năm vốn đầu tư nước ngòai trực tiếp hay gián tiếp đều suy giảm nghiêm trọng. Nhiều bộ ngành quyết tâm nhưng theo diều cái chúng ta cũng chẳn làm gì được do tình hình chung.
Thực sự nhà đầu tư sẽ nhận lấy 2009 là một năm suy giảm nghiêm trọng, ở đây chúng ta còn hòan tòan phảI trông chờ vào biện pháp kích cầu của chính phủ, làm tớI đâu? Hiệu quả ra sao thì không ai có thể biết được.

năm 2009 dự kiến nhập khẩu sẽ không tăng.
Kim ngạch nhập khẩu sẽ giảm mạnh trong nửa đầu năm
nhiều loại nguyên, nhiên vật liệu đầu vào giảm giá mạnh, có loại giảm ở mức 30-50%.
tình trạng nhập khẩu với số lượng lớn nguyên, nhiên liệu để đầu cơ như năm 2008 nhiều khả năng sẽ không còn. Vì phảI gặp bài học quá đắt giá.
Dự kiến kim ngạch xuất khẩu năm 2009 sẽ ở mức 90,3 tỷ USD, tăng 13% so với năm 2008. theo tôi con số nhập siêu trong năm nay sẽ không nhiều khoản trên dưới 13 tỷ usd.

Vấn đề xuất nhập khẩu rất đáng lo ngạI, hầu hết các nước lớn trên thế giớI giảm mạnh từ 30-40%, việt nam vốn đã yếu là không ngọai lệ, điều tồI tệ hơn chiều hướng xấu ngày càng gia tăng trong ngắn hạn.
====================

2. tình hình kinh tế tài chính thế giới:

- Nhật Bản: xuất khẩu trong tháng 12/2008 đã sụt giảm với tốc độ kỷ lục 35% so với cùng kỳ năm ngoái, sau khi đã giảm 26,7% trong tháng 11.kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản sang Mỹ, Trung Quốc và châu Âu – các thị trường chính đối với những mặt hàng chủ lực của Nhật như xe hơi và hàng điện tử – giảm mạnh chưa từng có. Xuất khẩu của Nhật sang Trung Quốc giảm 35,5%; xuất khẩu sang Mỹ giảm 36,9% và xuất khẩu sang châu Âu giảm 41,8%. Xuất khẩu của Nhật sang châu Á, thị trường chiếm khoảng một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này, đã giảm tới 36,4%. sản xuất công nghiệp ở Nhật Bản đã giảm 9,6% trong tháng 12-2008 khi nhiều công ty và các hộ gia đình phải cắt giảm chi tiêu. Nhiều nhà kinh tế dự báo tăng trưởng kinh tế của Nhật trong tháng 2-2009 thậm chí sẽ ở mức âm hai con số
Nhập khẩu của Nhật trong quý 4 cũng giảm 21,5% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, trong quý này, Nhật Bản vẫn chịu thâm hụt thương mại quý thứ ba liên tiếp, ở mức 320,7 tỷ Yên (3,6 tỷ USD)

-Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai châu Á và lớn thứ ba thế giới, hôm nay cho biết, GDP nước này trong quý 4/2008 tăng trưởng 6,8%, thấp nhất trong vòng 7 năm qua.Giới quan sát quốc tế nhận định, kinh tế của Trung Quốc đang “xì hơi”. Các dự báo về tăng trưởng của nền kinh tế này trong năm 2009 rất khác nhau, nhưng đều là những con số thấp nhất từ năm 1990 tới nay
Xuất khẩu lao dốc khiến hàng loạt công ty Trung Quốc phải đóng cửa nhà máy, sa thải công nhân, đe dọa dẫn tới bất ổn xã hội. Xuất khẩu trong tháng 12/2008 đã sụt giảm 2,8% so với cùng kỳ năm 2007, mạnh nhất trong vòng 10 năm qua.
sẽ có khoảng 10 triệu người Trung Quốc bị mất việc làm trong các ngành xuất khẩu và 5 triệu người mất việc trong lĩnh vực xây dựng. Chính phủ Trung Quốc dự báo, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị nước này (không tính lao động nhập cư) có thể lên tới 4,6% trong năm 2009, cao nhất trong 30 năm qua

-Trong tháng 12 vừa qua, xuất khẩu của Đài Loan sang Trung Quốc đã giảm 44%, xuất khẩu của Hàn Quốc sang Trung Quốc giảm 30%, xuất khẩu của Australia sang nước này giảm 25%… Kinh tế Singapore trong quý 4 vừa qua đã sụt giảm 16,9% so với cùng kỳ năm trước, một mức sụt giảm kỷ lục

-Một nền kinh tế lớn nữa của châu Á là Hàn Quốc hôm nay công bố, trong quý 4/2008, GDP tăng trưởng âm 5,6%, đánh dấu quý tồi tệ nhất từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cách đây hơn một thập kỷ, sau khi đã tăng trưởng âm 0,5% trong quý 3. Năm 2008, kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng 2,5%, thấp nhất từ năm 1998.kinh tế Hàn Quốc đang chịu sự tàn phá mạnh mẽ của sự sụt giảm xuất khẩu – lĩnh vực với những sản phẩm chính như xe hơi, hàng điện tử, tàu biển, chất bán dẫn… và đóng góp khoảng 50% GDP của nước này. Xuất khẩu hàng hóa của Hàn Quốc trong quý 4 giảm 11,9% so với quý 3, đánh dấu quý giảm mạnh nhất từ năm 1979 tới nay

-Bộ Thương mại Singapore sáng nay đưa ra báo cáo, GDP có thể tăng trưởng âm 5% trong 2009, con số tồi tệ nhất kể từ khi nước này giành được độc lập năm 1965. Đây là lần thứ hai chỉ trong vòng 3 tuần, Bộ Thương mại sửa lại dự báo tăng trưởng. Lần trước hôm 2/1, con số dự đoán là âm 2%. Trong năm 2008, GDP tăng trưởng 1,2%, thấp hơn so với các báo cáo trước đó. Cũng trong 2008, đã có hơn 10.000 người bị mất việc làm. Con số này còn có thể gấp ba trong năm 2009, lượng cắt giảm kỷ lục kể từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á một thập kỷ trước. Bộ trưởng Thương mại Lim Hng Kiang nói hôm 19/1 rằng khủng hoảng đã ảnh hưởng sâu rộng lên tất cả các ngành kinh tế của nước này, nhất là ngành sản xuất”. Khu vực sản xuất, vốn chiếm 1/4 nền kinh tế, đã suy giảm 10,7% trong vòng 3 tháng cuối năm so với cùng kỳ 2007, và tăng trưởng âm 4,1% trong toàn bộ 2008.Singapore là quốc gia phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu. Số lượng đơn đặt hàng sản phẩm điện tử, dược phẩm từ hai thị trường lớn nhất là Mỹ và châu Âu đã suy giảm mạnh. Tập đoàn công nghệ Creative, nhà sản xuất linh kiện cho sản phẩm Ipod của Apple đưa ra một báo cáo hôm 31/12, cho biết trong năm ngoái họ đã phải cắt giảm tới 2.700 việc làm, chiếm một nửa số nhân công. Thời gian qua, nhu cầu mua máy nghe nhạc Creative giảm mạnh trên toàn thế giới.

-Bộ Lao động Mỹ thông báo, số người nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu trong tuần kết thúc vào ngày 17/1/2009 đã tăng 3.000 lên 588.000, từ 585.000 trong tuần trước đó
Bộ Thương mại Mỹ cho biết, số đơn đặt hàng lâu bền của các nhà máy ở Mỹ đã giảm 2,6% trong tháng 12/2008, đưa tổng số đơn đặt hàng trong năm 2008 giảm 5,7% – mức giảm mạnh nhất kể từ năm 2001, sau khi tăng 1,3% trong năm 2007
doanh số bán nhà mới xây trong tháng 12/2008 ở Mỹ đã giảm 14,7% – tháng giảm mạnh nhất kể từ năm 1994. Giá trung bình một căn nhà đã giảm 9,3% xuống 206.500 USD/căn, so với cùng kỳ năm trước
Hạ viện Mỹ đã chính thức thông qua kế hoạch kích thích kinh tế tăng trưởng của Tổng thống Obama với tổng kinh phí trọn gói trong bản kế hoạch là 819 tỷ USD. hoạch này có thể mang lại một cú huých quan trọng giúp kinh tế Mỹ phát triển, dự kiến sẽ giúp tăng GDP của Mỹ thêm 1,2% lên mức 3,5% vào cuối quý 4/2010 và tạo ra từ 1,2 đến 3,6 triệu việc làm
Bộ Thương Mại Mỹ công bố GDP quý 4/2008 giảm 3,8%, mức suy giảm tệ hại nhất từ năm 1982. Quý 4/2008, tiêu dùng người Mỹ giảm 3,5% sau khi đã giảm 3,8% trong quý trước đó. Đây là lần đầu tiên từ năm 1947 tiêu dùng người dân giảm hơn 3% trong suốt hai quý liên tiếp. ngày 29-1 Thượng viện Mỹ đã chấp thuận đề nghị của Tổng thống Barack Obama xem xét một dự luật kích thích kinh tế lên tới 900 tỉ USD vào đầu tuần tới, trong đó các khoản cắt giảm thuế sẽ đóng vai trò quan trọng

- Ủy ban Châu Âu tuyên bố toàn bộ khu vực Liên minh châu Âu sẽ phải đối mặt với một cơn suy thoái sâu rộng. Tại 16 quốc gia sử dụng đồng tiền chung, tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng từ 7,5% trong năm 2008 lên 10% trong năm 2010. Chỉ số lạm phát của khu vực cộng đồng 16 nước được dự đoán là 1% trong năm 2009 và có thể tăng lên mức 1,8% trong năm sau đó. Cũng trong báo cáo này, dự báo tăng trưởng GDP toàn thế giới trong năm 2009 là 0,5%
Viện nghiên cứu kinh tế và xã hội của Anh công bố quý 4/2008, kinh tế Anh suy giảm với tốc độ mạnh nhất trong gần 3 thập kỷ, suy thoái kinh tế ngày một trầm trọng hơn. 31/12/2008, GDP của Anh giảm 1,5%, mức suy giảm tệ hại nhất từ năm 1980. Quý 3/2008, kinh tế Anh đi xuống 0,6%. lĩnh vực sản xuất đi xuống mạnh nhất từ năm 1980. Ngân hàng Trung ương Anh đã giảm lãi suất cơ bản xuống mức 1,5%, mức thấp nhất từ khi Ngân hàng Trung ương được thành lập năm 1694. ngày 29-1 Ngân hàng Trung ương Anh đã bắt đầu chương trình 50 tỉ bảng (71 tỉ USD) để cứu thị trường tín dụng bằng cách mua lại các tài sản tài chính trong bối cảnh tỉ lệ thất nghiệp ở nước này tăng gần gấp hai lần so với dự kiến trong tháng 1-2009. Lòng tin trong giới kinh doanh ở khu vực sử dụng đồng euro cũng xuống tới mức thấp kỷ lục trong tháng đầu năm nay
—-Tập đoàn bảo hiểm tiền gửi Mỹ (FDIC) đã đóng cửa thêm 3 ngân hàng tại Maryland, Florida và Utah nâng tổng số ngân hàng bị đóng cửa trong tháng 1/2009 lên con số 6.Nguyên nhân chính của việc đóng cửa là khủng hoảng tài chính tác động mạnh tới những ngân hàng nhỏ trên khắp nước Mỹ.Ngân hàng bị đóng cửa đầu tiên là Ocala National Bank có tổng tài sản 223,5 triệu USD và tổng lượng tiền gửi 205,2 triệu USD. Ngân hàng bị đóng cửa khác có tên Suburban Federal có tổng tài sản 306 triệu USD và tổng tiền gửi 302 triệu USD.
Việc hai ngân hàng này sụp đổ tiêu tốn của FDIC 225 triệu USD.Trong một quyết định khác, FDIC cho biết họ không tìm được tổ chức tài chính nào muốn thâu tóm hoạt động của ngân hàng MagnetBank tại Salt Lake City. Ngân hàng này không có khoản tiền gửi nào được bảo hiểm.Ngân hàng có tổng tài sản 292,9 triệu USD và tổng tiền gửi 282,8 triệu USD. Đây là ngân hàng thứ 3 của FDIC nhưng là ngân hàng đầu tiên tại Utah sụp đổ tính từ năm 2004.Từ đầu năm đến nay, cứ một tuần nước Mỹ mất thêm hơn 1 ngân hàng. Năm 2008, số ngân hàng sụp đổ là 25 nhưng năm kỷ lục của các vụ sụp đổ ngân hàng gần nhất là năm 1993 với tổng số 42 ngân hàng bị đóng cửa.

=====

theo dieucai bức tranh kinh tế thế giới đến giờ này đây phải nói là cuộc đại suy thoái kinh tế lần thứ 2 trong lịch sử. dấu hiệu rõ ràng nhất đếnm giờ này đó là suy thoái đồng loạt, hầu như những nước phát triển đều rơi vào tình trạng tồi tệ nhất hàng chục năm qua, thậm chí chưa chừng có trong tiền lệ.
giờ đây cuộc khủng hoảng đã lan rộng tới toàn bộ nền kinh tế thế giới. Sức mua giảm, đơn đặt hàng giảm, sản xuất công nghiệp đình đốn, tỷ lệ thất nghiệp tăng với những con số chưa có tiền lệ, hoặc cao nhất hàng chục năm qua.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho rằng kinh tế toàn cầu sẽ chỉ tăng trưởng 0,5% năm 2009, giảm từ mức dự báo 2,2% vào tháng 11.2008. Cũng theo IMF, GDP Mỹ sẽ giảm 1,6%, 16 quốc gia sử dụng đồng euro giảm 2% và Nhật Bản giảm 2,6%

các con số gần đây đã chứng mình kinh tế thế giới ngày càng xa vời hơn cho phục hồi vào quý 3 tới, và lại phải tăng thêm một bước nữa cho những dự báo gần đây cho rằng kinh tế thế giới phục hồi vào đầu năm 2010.
dieucai từng cho rằng sau khu vực tài chính sẽ đến khu vực công nghiệp. ngày nay sự tàn phá chưa từng có của 2 khu vực này báo hiệu một quý đầu tiên của 2009 càng trầm trọng hơn.
người mỹ thực sự sẽ dùng hạ sạch cung tiền chưa có tiền lệ trong lịch sử để vực đậy kinh tế.
cụng theo dự đoán của tôi: kinh tế thế giới sẽ phải chấm dứt tình trạng giảm sâu trong quý 3 tới đây. một trong những sự phục hồi quan trọng đó chính là ổn định được khu vực tài chính. ngày nay hầu hết phục vụ cho sản suất giá đã giảm về giá đáy vì thế cần hồi phục khu vực đầu tư được đã thông bởi tài chính.

===========

3. các chính sách kinh tế 2009 ( chỉ những chính sách mới cập nhật gần đây)

lãi suất cơ bản hiện 7% năm từ ngày 1/2/2009 sẽ phải điều chỉnh giảm xuống còn 5-6% trong vài tháng tới, dự đoán 6%, nếu tình hình khó khăn hơn sẽ phải đưa về 5% đề giúp đầu tư, tham gia đầu tư của xã hội.tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận các nguồn vốn tín dụng ngân hàng trong bối cảnh giá cả có xu hướng giảm. ngân hàng thương mại cần tiếp tục thực hiện chính sách giảm mức độ thắt chặt tiền tệ, quản lý chặt chẽ rủi ro, nhất là rủi ro tín dụng, đưa dần tỷ lệ nợ quá hạn về ngưỡng an toàn, thì vẫn phải duy trì cung cấp tín dụng cho các dự án tốt, có hiệu quả.lãi suất cho vay hiện thấp nhất là 8% năm cao nhất là 10.5% năm
chính sách tỷ giá trong năm nay theo hướng tăng dần và có khả năng nằm ở 18500 đồng / usd nhằm hỗ trợ thêm cho xuất khẩu.

một loạt chính sách thuế và giảm thuế đã được thực thi:
-nhằm thực hiện chủ trương kích cầu đầu tư và tiêu dùng, ngăn chặn suy giảm kinh tế, tháo gỡ khó khăn đối với doanh nghiệp, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 16/2009/QĐ-TTg ngày 21/01/2009. Cụ thể, giảm 50% mức thuế suất thuế giá trị gia tăng từ 01/02/2009 đến hết 31/12/2009 đối với các hàng hóa, dịch vụ gồm: Than đá; Hóa chất cơ bản; Ôtô các loại và một số linh kiện ôtô; Sản phẩm luyện, cán, kéo kim loại đen, kim loại màu, kim loại quý (trừ vàng nhập khẩu); Máy xử lý dữ liệu tự động; Vận tải hàng hóa (trừ vận tải quốc tế); Kinh doanh khách sạn, dịch vụ du lịch lữ hành trọn gói; In (trừ in tiền)…
Gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong năm 2009 trong thời hạn 9 tháng với các hoạt động: Sản xuất sản phẩm cơ khí là tư liệu sản xuất; Sản xuất vật liệu xây dựng: gạch, ngói các loại, vôi, sơn; Xây dựng, lắp đặt; Dịch vụ du lịch; Kinh doanh lương thực; Kinh doanh phân bón.
Không thu thuế xuất khẩu đối với mặt hàng gỗ xuất khẩu được sản xuất từ gỗ nhập khẩu áp dụng với tờ khai hải quan đăng ký trước ngày 01/12/2008.
Cùng với đó, ngày 21/01/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg ban hành Quy chế Bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng thương mại

Trong năm 2009, các tổ chức, cá nhân vay vốn sản xuất kinh doanh sẽ được ngân hàng trừ 4% lãi vay. Đây là một phần trong kế hoạch kích cầu 1 tỷ USD vừa được Chính phủ phê duyệt nhằm hỗ trợ nền kinh tế trong bối cảnh suy thoái lan rộng trên thế giới.Theo tính toán, với 17.000 tỷ đồng kích cầu của Chính phủ, doanh nghiệp sẽ được hưởng 420.000 tỷ đồng vốn vay với lãi suất ưu đãi (giảm 4% so với thông thường)

Ngày 30/1, Bộ Tài chính đã có thông báo khẳng định là không có việc thu thuế Giá trị gia tăng (VAT) 10% đối với kiều hối và hoạt động xuất nhập khẩu ngoại tệ.

mỡ rộng thị trường trong nước. và kiểm soát tt nhập khẩu

bộ xây dựng chi riêng cho chương trình xây nhà xã hội 2500 tỷ đồng đã bắt đầu thực hiện.

tổng chi ngân sách nhà nước 2009 là gần 600.000 tỷ đồng (có thể gân hậu quả nếu chất lượng kém). việc kích thích nhu cầu trong nước có vai trò hết sức quan trọng đối với việc tăng tổng cầu và tăng trưởng của nền kinh tế, tạo ra sức cầu đầu tư của nước ta vẫn lớn, nhờ đó góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế trong năm 2009 và tạo thêm năng lực sản xuất mới cho các năm tiếp theo.

gói kích thích kinh tế 6 tỷ usd đang được phần nào đưa vào xã hội, tuy nhiên còn ít và chưa rõ ràng và cần thời gian xem tác dụng đến đâu.

Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 16 về việc ban hành một số giải pháp về thuế nhằm thực hiện chủ trương kích cầu đầu tư và tiêu dùng, ngăn chặn suy giảm kinh tế, tháo gỡ khó khăn đối với doanh nghiệp.Theo đó, từ ngày 1/2 đến hết 31/12/2009, giảm 50% mức thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với các hàng hóa, dịch vụ

===khốI tài chính ngân hàng===

không có chính sách nào tác dụng trong năm nay vớI nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngòai. Ngọai trừ vài chính sách hỗ trợ cho việt kiều về quê nhà gửI tiệt kiệm qua đó phục vụ tăng cường đầu tư. Chính phủ cần sớm bàn hành chính sách khuyến khích lượng vố có ý định chuyển đi nước khác ở lạI vớI nhiều chính sách ưu đãi, đánh những đồng thuế còm cõi lúc này là chính sách rất tồi. KhốI gián tiếp đã bán nhiều trái phiếu, cần khuyến khích, và tăng sở hữu, thập chí 100% cho họ nắm quyền ở mức độ nào đó.

KhốI ngân hang sẽ phảI hứng chịu khó khăn khắc nghiệt trong 6 tháng đầu năm, một lờI khuyên chân thành nhà đầu tư không nên lao vào ngân hang trước mắt là trong 3 tháng tới. Chính sách lãi suất và hành chính sẽ làm cho ngân hang gần như cầm cự để sống. Chiều hướng giảm lãi suất cơ bản sẽ tiếp tục. khi nó dừng lạI thì 6 tháng sau đó mớI bắt đâu tác dụng cân bằng ( tiền gửI – và cho vay). Lúc này mớI hy vọng tạo ra lợI ích cho ngân hang.

Các quỹ trong và ngòai nước gần như co cụm lạI, một năm nan giảI, và chĩ nằm chơ thời. Gần như tất cả các nẽo đường cho chứng khóan nhận vốn qua kinh này đóng băng hoàn tòan.

Năm nay các công ty tham gia đầu tư tài chính cũng sẽ phảI cầm cự, họăc bán ra. Còn hy vọng về mua them vào gần như bằng 0. chúng ta cũng không nên kỳ vọn.

Chỉ duy nhất đó là lãi suất làm ngườI gửI tiền cảm thấy mắt mát quá lớn, có thể một lượng vốn không nhỏ từ bỏ tiết kiếm chuyển qua sở hữa chứng khóan, vớI hy vọng cổ tức bằng tiền cao hơn lãi suất ngân hang 1,5 lần.

Năm này có nhiều thành phần xác định là năm cơ hộI chin muồi. Phần lớn sự thông thái của tt sẽ chờ đợI thờI cơ chín muồI, nhưng không phảI lúc này. Có thể nói năm nay là cơ hộI lớn nhất trong đa số chúng ta.

4. đánh giá kinh tế vĩ mô trong năm 2009:

năm 2009, khó khăn và thách thức sẽ nhiều hơn so với năm 2008

- tăng trưởng các quý từ đầu năm 2008 đến nay bắt đầu giảm dần, và đến quý 1 này sẽ phải hứng chịu giảm mạnh, thực sư chưa có dấu hiệu nào cho thấy sự đảo chiều. và là dấu hiệu đầu tiên của 1 năm đầy khó khăn. khó khăn hơn 2008 nhiều.
- xuất nhập khẩu cũng theo chiều hướng bất lợi, và mỗi quý trôi qua, mỗi tháng trôi qua càng xấu đi.
- dự kiến tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm nay tăng so với 2008 là 10%, tuy nhiên khu vực chi tiêu tài khóa tăng đến 20% và dâu tư ngoài nhà nước có thể giảm 10-15%. đây cũng mới là dự kiến, và chính phủ đang làm gì cần xem xét thật kỹ. tính chung chi tiêu trước mắt nhìn thấy thì đang giảm.
- sự giảm CPI trong 4 tháng gần đây rất mong manh. hiệu quả ICOR thấp (7) sẽ gây kho khăn sau này. một khi có ổn định và tăng trưởng trở lại thì bài toán lạm phát và kìm giá lại dân cao. nói chung sẽ bất ổn (phân tích tại chính sách kích cầu)
-Các quỹ một thời góp phần tạo nên làn sóng đầu tư gián tiếp vào Việt Nam đang rơi vào giai đoạn khó khăn nhất từ trước tới nay: lỗ lớn, thiếu tiền mặt, gọi vốn hay lập quỹ mới đều nan giải. nhìn chung ttck 2009 kém đi sôi động, nguồn vốn từ các phía đều cạn kiệt. chúng to chỉ trông chờ ở vài con sóng nhỏ nhoi, cho đến mức độ vừa vừa mà thôi. mọi nẽo đường của quỹ, hay gián tiếp đều tê liệt.
- nhìn chung các quỹ không bán ra để thoái vốn nhiều, chỉ có cơ cấu lại và mua thêm với số vốn còm cõi của mình. nếu đứng trên phương diện quỹ và gián tiếp, ít có khả năng tháo chạy làm vni giảm mạnh. nhưng mức độ giảm 50-70 điểm là hoàn toàn có thể sảy ra do bức bối lượng tiền vào chứng khoán năm nay.nhưng ở mức độ nào đó chính là cơ hội ngàng vàng cho năm nay nếu ai có vốn, không thể tốt hơn được nữa. còn khi nào ra trận thì ở bài toán khác.
- một xu hướng mời trong năm 2009 này sẽ phải xích lại gần nhau để giảm chi phí, từ quốc gia, cho đến ngành kinh tế, công ty, gia đình, nhóm bạn bè, thậm chí cá các đôi yếu nhau, làm sao đó để giảm chi phí cho du xây dựng mối tính mới hay là giữ mối tình cũ để giảm chi phí. năm nay hệ thống giá trị sẽ bị một phần thay đổi đơn giản là do biến động kinh tế chưa có tiền lệ với thế hệ chúng ta
- năm nay cũng là năm hệ lụy của nhóm công ty chứng khoán, ngoài ssi có thế thấy chắn chắn, còn lại chưa biết đi đâu về đâu. một năm của nổi đình nổi đám xấu của công ty chứng khoán.
- Việt Nam cũng đưa ra 5 nhóm giải pháp để ngăn chặn suy giảm kinh tế nhưng nếu thực thi không đúng liều lượng sẽ dẫn đến kích cầu quá mức làm lạm phát quay trở lại. Nhưng nếu không kích cầu thì sẽ kinh tế suy giảm và dẫn tới giảm phát.
-kinh tế đang suy giảm nếu ta thoát ra khỏi thì sẽ có cơ hội lớn để vượt lên. Nhưng để làm được điều này là cực kỳ khó vì thực lực nền kinh tế nước ta còn yếu, tri thức thực sự để quản lý kinh tế thị trường còn hạn chế. Đó là những yếu kém cần nhìn nhận nghiêm túc, không được chủ quan, lạc quan tếu trước những thành quả bước đầu. Trong bối cảnh kinh tế thế giới luôn luôn biến động, điều kiện thiên tai luôn rình rập… thì việc nhìn nhận đúng và đưa ra được chính sách phù hợp là vô cùng quan trọng.
- năm nay cơ hội cho Luật Đất đai để tháo gỡ các vướng mắc mà thực tế cuộc sống đang đặt ra. Đặc biệt, sẽ sớm chỉnh sửa các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giá thuê đất để bảo đảm bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài”.
- 2009 được dự báo sẽ là năm khó khăn đối với kinh tế toàn cầu cũng như nước ta. Tuy nhiên, những khó khăn đó có thể được giảm bớt và vượt qua, nếu chính sách đưa ra luôn kịp thời và mạnh mẽ trước những diễn biến của thị trường, xử lý những thách thức đối với hệ thống tài chính, nền kinh tế thực, xây dựng lòng tin của cộng đồng doanh nghiệp và người tiêu dùng.
-thị trường hàng hóa những ngày sau tết tiêu thụ chậm lại ( đã xem một số báo cáo của các công ty bán lẻ)

==== một minh chứng cho nền kinh tế VN quả thực là kém hiệu quả ====

GDP của Việt Nam năm 2007 được phân bổ như sau (GDP = C + G + I + NX):

– Tiêu dùng tư nhân: C = 64,9%
– Tiêu dùng chính phủ: G = 6,1%
– Đầu tư trong nước: I = 44,1%
– Xuất khẩu ròng (xuất khẩu – nhập khẩu): NX = X – N = 73,6% – 90,2% = –16,6%
Đặc điểm đầu tiên có thể dễ dàng nhận thấy là tiêu dùng tư nhân của Việt Nam thuộc nhóm cao nhất trong khu vực Đông – Đông Nam Á (64,9%), cao hơn nhiều so với Trung Quốc (37,1%) và Thái Lan (53,5%). Ngược lại, tiêu dùng chính phủ của ta lại thuộc nhóm thấp nhất trong khu vực, chỉ có 6,1% so với 14,4% của Trung Quốc và 12,6% của Thái Lan. Nếu gộp hai mục này lại thì tiêu dùng nội địa của Việt Nam vẫn cao hơn Trung Quốc và Thái Lan nhưng đã bằng hoặc thấp hơn một số nước khác.
Tại sao tiêu dùng tư nhân (C) của Việt Nam lại cao như vậy? Có phải vì dân Việt Nam không có tính tiết kiệm? Chúng ta thường tự khen là người Việt Nam “cần cù tiết kiệm”, số liệu về tỷ lệ tiết kiệm nội địa cho thấy dân Trung Quốc và cả dân Thái Lan cũng hơn dân Việt Nam về mặt này. Cũng có thể tỷ lệ tiết kiệm của Việt Nam thấp vì đa số người dân còn nghèo nên phần lớn thu nhập phải chi cho các nhu cầu cơ bản như lương thực, y tế, giáo dục. Khi một người phải “chạy ăn từng bữa” thì không thể có tiết kiệm được. Lập luận này có vẻ hợp lý vì tiêu dùng tư nhân ở Campuchia, Indonesia và Philippines, những nước nghèo trong khu vực, cũng cao tương đương hoặc nhỉnh hơn Việt Nam. Tuy nhiên, bạn có thể đặt câu hỏi: vì nghèo nên tiết kiệm thấp hay vì không tiết kiệm nên nghèo? Hay đấy là một cái vòng luẩn quẩn?
Điều ngạc nhiên hơn là chi tiêu chính phủ (G) của Việt Nam lại thấp như vậy (6,1%). Chúng ta vẫn than phiền về bộ máy hành chính cồng kềnh và Chính phủ vẫn đang cố gắng tinh giảm biên chế để bớt gánh nặng cho ngân sách. Vậy tại sao G của Việt Nam lại chưa bằng nửa của Trung Quốc (14,4%) và Thái Lan (12,6%)? Có phải vì nguồn thu của Chính phủ thấp nên G buộc phải nhỏ? Số liệu về ngân sách cho thấy không phải vậy. Ngân sách của Việt Nam có tổng nguồn thu bằng 24,9% GDP, so với 20,6% của Trung Quốc và 17,2% của Thái Lan.
Với nguồn thu bằng 24,9% GDP năm 2007, Chính phủ đã chi tiêu tổng cộng bằng 28,1% GDP trong đó phần chi vào G chỉ có 6,1%. Như vậy 22% GDP được Chính phủ chi vào đầu tư và xây dựng cơ bản. Đây là tỷ lệ chi cho đầu tư công lớn nhất khu vực, gấp bốn lần Trung Quốc (5,5%) và hơn ba lần Thái Lan (6,6%). Có thể nói Chính phủ Việt Nam là nhà đầu tư lớn nhất trong nền kinh tế. Trong số 44,7% tổng đầu tư trong nước, Nhà nước chiếm 22%, các nhà đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm 9,3%, vậy là giới doanh nghiệp tư nhân Việt Nam chỉ đầu tư bằng 10,4%, so với 35% của Trung Quốc và 17% của Thái Lan. Tóm lại “nội lực” của Việt Nam vẫn chủ yếu nằm trong tay Nhà nước và sự “còi cọc” của khu vực tư nhân có thể là hậu quả của hiệu ứng lấn át (là hiệu ứng nhà nước hoạt động kinh tế quá nhiều nên lấn át cơ hội sử dụng nguồn lực của tư nhân vì tổng nguồn lực của nền kinh tế là hữu hạn).
Vài năm gần đây Việt Nam cổ vũ và khuyến khích quá trình “xã hội hoá” nhiều dịch vụ công như xây dựng cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế, thể thao, và mới nhất là công chứng. Nếu hiểu “xã hội hoá” là dỡ bỏ các rào cản pháp lý để các thành phần kinh tế tư nhân có thể cùng Nhà nước (và cạnh tranh với Nhà nước) cung cấp các dịch vụ công này thì đây là điều đáng khuyến khích. Tuy nhiên nếu “xã hội hoá” là một hình thức Nhà nước đẩy một phần trách nhiệm cung cấp các dịch vụ công vào tay người dân thì kết quả sẽ là G giảm và C tăng. Ví dụ trước đây người dân được khám bệnh miễn phí, thực ra chi phí cho việc khám bệnh nằm trong G, nay ngành y tế được “xã hội hoá” – người bệnh phải trả một phần viện phí nên C tăng lên. Việc G của Việt Nam giảm liên tục từ 12,3% năm 1990 đến 6,1% năm 2007 có thể là một dấu hiệu đáng ngại của xu hướng “xã hội hoá” các dịch vụ công kiểu này. Trong khi đó G của Trung Quốc dao động trong khoảng 14 – 15% còn của Thái Lan tăng liên tục từ 9,4 – 12,6%.
Tương quan G/C thấp của Việt Nam còn có thể do hệ thống an sinh và bảo hiểm xã hội của Việt Nam còn quá nhỏ và yếu. Ngay cả trong trường hợp các quỹ bảo hiểm xã hội (hưu trí, thất nghiệp, y tế) được đặt ngoài ngân sách (như của Việt Nam hiện tại), Chính phủ vẫn phải thường xuyên bù lỗ cho các quỹ này, nhất là trong các giai đoạn kinh tế khó khăn. Nâng cao mức phúc lợi cho người dân từ các quỹ này, gián tiếp làm tăng G, vừa giúp giảm bớt khó khăn trong cuộc sống của người dân vừa tạo ra một cơ chế “kích thích tài khoá tự động” cho nền kinh tế.
Số liệu về tổng thu ngân sách của Việt Nam tăng liên tục từ 21,9% năm 1990 lên 28,1% năm 2007. Vậy G giảm liên tục chứng tỏ đầu tư chính phủ đã tăng không ngừng. Có thể đây là chiến lược phát triển của Việt Nam: tăng tốc đầu tư chính phủ (vào các tập đoàn nhà nước) để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhưng rõ ràng chiến lược này có giới hạn của nó. Giữ G thấp quá lâu sẽ làm ảnh hưởng đến vốn con người và vốn xã hội trong khi tăng đầu tư nhà nước có hiệu quả không cao vì vừa dễ bị thất thoát vừa bị hạn chế bởi năng lực và cơ chế quản lý. Một bằng chứng rất rõ là nhiều nhà kinh tế đã cảnh báo tỷ lệ đầu tư trên tăng trưởng (ICOR) của Việt Nam đang tăng liên tục và cao hơn nhiều nước trong khu vực (ICOR trung bình của Việt Nam tính theo số liệu của ADB từ năm 2001 đến 2007 là 5,5).
Bên cạnh chiến lược phát triển dựa vào đầu tư của Chính phủ, Việt Nam cũng học tập (theo lời khuyên của ngân hàng Thế giới) chiến lược phát triển hướng vào xuất khẩu của nhiều nước, lãnh thổ ở châu Á đã và đang thành công như Đài Loan, Hàn Quốc, Hong Kong, Singapore, Malaysia và Trung Quốc. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2007 đạt 167% GDP, cao hơn của Trung Quốc (72%) và Thái Lan (139%) nhưng vẫn thấp hơn Malaysia (200%), Hong Kong và Singapore (400%). Đây là một chiến lược phát triển nhiều rủi ro vì nó phụ thuộc vào cầu thế giới, một điều các nước nhỏ không thể tác động được. Điều này có thể thấy rất rõ khi các nước châu Á có độ mở tương đương với Việt Nam đều đang bị suy thoái khá nghiêm trọng do cầu thế giới sụt giảm trong nửa sau năm 2008.
Tất nhiên chấp nhận rủi ro là để được những thuận lợi khác: các nước áp dụng chính sách phát triển dựa vào xuất khẩu đều đã có những giai đoạn phát triển vượt bực, là hình mẫu cho cả thế giới. Tuy nhiên khi áp dụng chiến lược này có một điểm Việt Nam không bắt chước được là luôn bị thâm hụt thương mại. Trong tất cả các nước trong khu vực có tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lớn hơn 70% GDP, chỉ có Việt Nam và Campuchia bị thâm hụt cán cân thương mại (nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu). Trong khi Campuchia bị thâm hụt có lẽ do tiêu dùng nội địa (C+G) quá cao (84%), Việt Nam bị thâm hụt chủ yếu vì đầu tư nội địa cao (tiêu dùng nội địa của Việt Nam tương đương với các nước có thặng dư thương mại).
Tổng tiết kiệm của Việt Nam năm 2007 là 29,8% GDP, khá thấp so với các nước trong khu vực. Tuy nhiên số tiết kiệm này thừa đủ cho đầu tư tư nhân trong nước (10%), cho nên Việt Nam phải nhập khẩu vốn (NX = –16,6%) hoàn toàn để tài trợ cho đầu tư nhà nước. Tóm lại, Việt Nam đã áp dụng chính sách phát triển dựa vào gia tăng đầu tư nhà nước (trong khi giảm dần G) để kích thích xuất khẩu. Nhưng vì đầu tư nhà nước có hiệu quả không cao nên tăng trưởng kinh tế không đủ bù đắp nhu cầu vốn nội tại, do vậy cán cân thương mại đã và đang thâm hụt nặng nề.
Nửa đầu năm 2008 Việt Nam đã chịu sức ép lạm phát rất lớn. Nguyên nhân trực tiếp đã được nhiều người chỉ ra là tốc độ tăng cung tiền và tín dụng quá nhanh trong năm 2007, một phần do ngân hàng Nhà nước đã không kịp thời hoặc không có khả năng trung hoà (sterilize) hoạt động mua ngoại tệ khi dòng FDI tăng vọt trong năm. Tuy nhiên nhìn từ khía cạnh tài khoản quốc gia, nguy cơ lạm phát có thể còn do tốc độ tăng trưởng của cầu nội địa (DD = C+G+I). Số liệu của ADB cho thấy năm 2007 C tăng 9,6%, G tăng 8,9% và I tăng 24,2%. Trong khi đó tăng trưởng của tổng sản lượng chỉ là 8,5%, nhỏ hơn tất cả các cấu thành của cầu nội địa.
Kết hợp với trọng số của các cấu thành nói trên có thể tính được tốc độ tăng cầu nội địa cho Việt Nam năm 2007 là 15%, gần gấp đôi so với tốc độ tăng GDP. Trong khi đó, các nước khác trong khu vực và ngay cả Việt Nam trong những năm trước đó đều có tốc độ tăng cầu nội địa tương đương với tốc độ tăng GDP, nếu có chênh lệch cũng không đến mức gấp đôi như vậy (trừ Brunei là một nước rất nhỏ và có tỷ trọng xuất khẩu dầu thô lớn). Chính sự gia tăng đột biến của cầu nội địa trong năm 2007, do FDI và đầu tư công cùng tăng, là một nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát đầu năm 2008.
Đến thời điểm này, khi nguy cơ cuộc khủng hoảng tài chính sẽ ảnh hưởng mạnh lên tăng trưởng của Việt Nam, Chính phủ đã đưa ra một gói giải pháp “kích cầu”, chủ yếu tập trung vào kích thích đầu tư. Với cơ cấu kinh tế Việt Nam như đã trình bày ở trên đã quá nghiêng về đầu tư, có lẽ các biện pháp kích cầu nên tập trung vào C và G. Đặc biệt nếu lập luận “xã hội hoá” nói trên đúng phần nào, việc tăng G thông qua “nhà nước hoá” lại một số dịch vụ công có thể là một giải pháp tốt. Nếu người dân bớt được chi phí cho giáo dục và y tế, họ sẽ có nhiều tiền hơn cho tiêu dùng. Họ cũng có thể sẽ tiết kiệm nhiều hơn và số tiền đó sẽ chủ yếu chảy vào đầu tư tư nhân, điểm yếu của nền kinh tế Việt Nam.
Rất tiếc báo cáo của ADB không có số liệu chi tiết về xuất nhập khẩu, tuy nhiên nhiều nhà kinh tế cho rằng phần lớn nhập khẩu của Việt Nam là nguyên vật liệu cho các mặt hàng xuất khẩu. Do đó nếu xuất khẩu giảm sút nhập khẩu cũng sẽ giảm theo, dù chậm hơn, và ảnh hưởng cuối cùng vào GDP có thể không quá lớn. Dù sao đi nữa Chính phủ cũng nên có các biện pháp hạn chế thâm hụt thương mại. Điều này không chỉ có lợi vào thời điểm suy thoái này mà còn có lợi về lâu dài. Xét về quan điểm kinh tế vĩ mô, thâm hụt thương mại là hình thức để một nước nhập khẩu tiết kiệm của nước ngoài khi tiết kiệm trong nước không đủ cho đầu tư nội địa. Do vậy để giảm thâm hụt thương mại thì hoặc phải giảm đầu tư hoặc phải tăng tiết kiệm nội địa.
Với cơ cấu đầu tư nội địa quá thiên về đầu tư nhà nước như của Việt Nam, việc chuyển dịch dần sang đầu tư tư nhân là cần thiết, vừa để tăng hiệu quả của đồng tiền đầu tư (giảm ICOR) vừa để Chính phủ có thể dồn ngân sách sang G giảm bớt gánh nặng “xã hội hoá” cho người dân. Tiết kiệm nội địa có thể điều chỉnh được qua các chính sách thuế, ví dụ tăng thuế gián thu (VAT) đồng thời giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và thu nhập cá nhân. Tăng thuế tiêu thụ đặc biệt vào các mặt hàng xa xỉ đang phải nhập khẩu cũng giúp tăng tiết kiệm và đồng thời giảm thâm hụt thương mại. Mạnh tay hơn với các yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá đối với các ngành sản xuất phải nhập khẩu nguyên vật liệu và linh kiện từ nước ngoài cũng là cách hạn chế bớt nhập khẩu.
Điểm cuối cùng, Việt Nam đã có những sai lầm trong quá trình đổi mới và mở cửa nên nền kinh tế đã có một cấu trúc không được tối ưu. Chúng ta cần nhìn nhận những sai lầm đó và kiên quyết sửa chữa. Một điều đáng tiếc là chúng ta sẽ phải trả giá cho những sai lầm này, không sớm thì muộn. Việc dịch chuyển cơ cấu đầu tư hay tương quan G/C có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng, nhất là trong giai đoạn khó khăn này. Nhưng thà chấp nhận tăng trưởng chậm lại trong vài năm để điều chỉnh còn hơn là cứ tiếp tục cơ cấu kinh tế không cân bằng hiện tại. Mỹ đang phải trả giá cho cơ cấu kinh tế lệch lạc của mình, nhưng cuộc khủng hoảng sẽ qua đi và nền kinh tế Mỹ sẽ lại phát triển. Chúng ta không nên mắc lại sai lầm của Mỹ nhắm mắt làm ngơ trước những lời cảnh báo về các mất cân đối trong nền kinh tế.

=========================================================

Nguyên trưởng ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ – Trần Đức Nguyên nói về những thách thức của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

- Về tình hình kinh tế Việt Nam trong năm vừa qua, theo quan điểm của ông, vấn đề nổi cộm nhất là gì?
- Trong một năm qua, chúng ta đã nói nhiều đến kiềm chế lạm phát, tiếp đến là ngăn chặn suy giảm kinh tế. Tất cả những vấn đề đó đã được bàn nhiều trong các cuộc họp và trên báo chí. Tôi chỉ nói một vấn đề thôi, đó là qua những giai đoạn khó khăn như hiện giờ, chúng ta có thể và cần nhận diện rõ hơn những điểm yếu của nền kinh tế, mà việc khắc phục nó vừa góp phần giải quyết khó khăn trước mắt, vừa tạo điều kiện cho bước phát triển mạnh và bền vững về sau.
- Những điểm yếu này là gì? Có phải đó là ba nút thắt cổ chai, về kết cấu hạ tầng, về nguồn nhân lực, về thể chế và quản lý nhà nước như người ta vẫn thường nói?
- Ba nút thắt cần phải tháo gỡ này có phần thuộc về trình độ phát triển còn thấp của nước ta trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường. Tôi muốn nói tới chỗ yếu cơ bản hơn trong hoạt động kinh tế và trong công tác quản lý nhà nước, đã được nêu thành bài học trong báo cáo của Thủ tướng Chính phủ tại kỳ họp Quốc hội cuối năm ngoái. Đó là nền kinh tế nước ta tăng trưởng liên tục với tốc độ khả quan, nhưng kém chất lượng, thể hiện ở đầu tư kém hiệu quả, sử dụng lao động và năng suất lao động thấp, chi phí ngày càng tăng, nên giá trị gia tăng ít đi, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, sức cạnh tranh kém, môi trường và chất lượng cuộc sống giảm sút. Thực tế cho thấy, tăng trưởng kém chất lượng chẳng những gây hệ quả xấu đối với xã hội và môi trường, đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô, mà còn kìm hãm ngay cả tốc độ tăng trưởng.
Có thể thấy rõ điều này khi phân tích hiệu quả đầu tư. Tổng đầu tư toàn xã hội của VN so với GDP thuộc loại cao nhất thế giới, trong những năm 2001-2006 là 39,6%, tương đương với Trung Quốc, còn năm 2007 là 45,6%. Nếu hệ số ICOR (chỉ tiêu tổng hợp cho thấy để tăng thêm một đồng GDP, cần đầu tư mấy đồng) của nước ta ngang với hệ số của Trung Quốc trong những năm 2001-2006, ta đã có thể đạt tốc độ tăng GDP khoảng 10% một năm. Chúng ta tăng trưởng dựa vào đầu tư là chính, mà nhà đầu tư, kể cả chủ đầu tư lớn cũng chỉ có một phần là vốn tự có, còn lại là đi vay. Khuyến khích đầu tư thì phải cho vay, nên tín dụng đầu tư tăng vọt. Đầu tư đưa vào chu chuyển kinh tế một khối lượng lớn vốn và chi phí nhưng do kém hiệu quả, không làm tăng tương ứng sản phẩm và dịch vụ nên dẫn tới lạm phát. Nguyên nhân sâu xa của lạm phát phải nhìn ở chỗ tăng trưởng kém chất lượng, mà điển hình là đầu tư kém hiệu quả.
- Có ý kiến cho rằng, mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào đầu tư là phù hợp với đặc điểm của một nền kinh tế phát triển theo chiều rộng như của Việt Nam. Nên hiểu vấn đề này như thế nào?
- Nói cho chính xác thì không một nền kinh tế nào chỉ phát triển theo chiều rộng hoặc hoàn toàn theo chiều sâu. Các nước mới phát triển trong thời gian đầu khó tránh khỏi dựa nhiều vào các yếu tố theo chiều rộng. Điều đáng nói là mô hình tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu là theo chiều rộng và diễn ra trong nhiều năm qua, dựa nhiều vào tăng đầu tư, khai thác tài nguyên và sức lao động rẻ, chưa chú trọng và chưa đạt được tiến bộ rõ nét về trình độ công nghệ và quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả (được gọi là các yếu tố phát triển theo chiều sâu). Điều này được Thủ tướng nhấn mạnh trong thông điệp đầu năm 2009 này.
- Đây không phải là lần đầu tiên câu chuyện đầu tư kém hiệu quả được nhắc tới, nhưng hình như lâu nay, chúng ta vẫn thiếu những đánh giá, phân tích một cách chính xác, sâu sắc về hiệu quả của đầu tư?
- Hiệu quả thấp chủ yếu là ở đầu tư công, bao gồm đầu tư từ nguồn vốn ngân sách, từ vốn tín dụng nhà nước (trái phiếu Chính phủ và vốn hỗ trợ phát triển của nước ngoài), và đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước. Không ai không thừa nhận tầm quan trọng của đầu tư công trong phát triển kinh tế – xã hội. Nhưng đầu tư công của ta có mấy yếu tố làm cho hiệu quả rất thấp.
Thứ nhất, chủ trương đầu tư có chỗ sai, thể hiện ở một số công trình làm xong, không sử dụng, hoặc chỉ sử dụng ở mức rất thấp. Từ khi chúng ta thực hiện phân cấp đầu tư mạnh thì lại càng khó kiểm soát; địa phương nào cũng muốn đầu tư nhiều, trong khi chúng ta thiếu quy hoạch đúng tầm cho cả nước và từng vùng, hệ thống thể chế và đội ngũ cán bộ còn bất cập. Một ví dụ dễ thấy là sự phát triển quá nhiều sân bay, cảng biển mà hệ số khai thác phần lớn là thấp.
Thứ hai, hầu hết các công trình đều kéo dài, mà đã kéo dài thì thường là tăng chi phí, giảm hiệu quả. Trước đây, ta có những công trình làm xong trước thời hạn; chẳng hạn, đường dây 500 KV hoàn thành sớm được 2 năm, đó là một kỳ tích, góp phần làm cho tình hình cung cấp điện trong cả nước được cải thiện rõ rệt. Bây giờ tìm công trình nào làm đúng thời hạn cũng hiếm, vì hầu hết các dự án đầu tư đều kéo dài. Thêm vào đó, chất lượng xây dựng thấp, phải tốn thêm tiền để sửa chữa, thậm chí phải phá đi làm lại. Cầu Văn Thánh (TP HCM) là ví dụ điển hình. Chi phí sửa chữa này cũng được tính một phần vào GDP, trong khi nó không làm tăng thêm sản phẩm và dịch vụ cho nền kinh tế.
Thứ ba, là tham nhũng. Nhiều người nói đầu tư công như là “chùm khế ngọt” cho cả A và B; tuy không đánh giá được cụ thể mức độ nhưng ai cũng thấy là những hành vi đục khoét vốn đầu tư diễn ra khá phổ biến và nghiêm trọng.
=====
kết luận về đầu tư chứng khoán:

1. không nên mặn mà với chứng khoán
2. không nên lạc quan
3. luôn phòng thủ
4. hiện nay chưa phải là thời điểm mua nhiều, dừng nắm quá 40% cổ phiếu
5. khả năng vni nằm ở 230-260 điểm hoàn toàn sảy ra
6. cơ hội rõ ràng sẽ đến, điểm thời gian thời cơ sẽ đến
7. sẽ có lúc cần thiết đầu tư toàn bộ những gì mình có trong năm nay
8. năm khó khắn lớn nhất nhưng cơ hội cũng lớn nhất
============
phân tích các công ty niêm yết:

1. Nhóm xuất khẩu: (lọai trừ một số ít công ty: từ phân tích báo cáo tài chính)

đốI vớI nhóm này tránh càng xa càng tốt, gần như trước mắt trong 2-3 quý tớI không thể thấy gì cả. đừng quan tâm làm gì. Nhưng cũng phảI nghiên cứu phân tích để chờ đợI thờI cơ.

Nhóm sản xuất nguyên liệu cơ bản: nhóm này sẽ còn phảI hứng chịu sự nằm im của giá, chi phí, đòn cân nợ. đặc biệt nhóm dầu khi từ quý 2 trở đi sẽ xấu.

2. nhóm ngân hàng : chờ đợI thờI cơ giá giảm mạnh, trước mắt trong 6 tháng tớI sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng nếu giá giảm mạnh lạI là cơ hộI, về lâu dài vẫn tốt, và sẽ tăng trưởng mạnh trỡ lại.
3. nhóm chứng khóan: theo phân tích và không tiện trình bày công ty riêng rẽ: nhưng chung lạI chỉ có khỏan 3 công ty đầu ngành trong nhóm cổ phần mà thôi. Còn lạI rất nguy hiểm.

4. nhóm đầu tư tài chính nhiều: chú ý phần trích lập, và phần lớn đã trích trong năm 2008. và xem xét lĩnh vực kinh doanh khác ngòai tài chính mang về lợI nhuận như thế nào.

5. nhóm thủy điện: cứ theo tiêu chí nhận cổ tức bằng tiền mặt ít nhất 12% năm trên tổng vốn đầu tư mớI có thể đầu tư.

6. nhóm bất động sản: hiện này là con dao 2 lưỡI giữa nợ và áp lực lợI nhuận. cân đốI doanh thu, và hiệu quả đầu tư. Nếu khủgng hỏang kéo dài mà đầu tư sớm sẽ nguy hiểm. cần xem xét từng công ty 1. không nên đánh đồng.

7. nhóm thương mạI dịch vụ: nói chung tùy công ty. Tuy nhiên ngày này vớI tỷ suất lợI nhuận cao không đáng lo ngạI

8. nhóm tiêu dùng sẽ cầm cự chung ở mức 20-30% EPS

9. nhóm vật liệu xây dựng: nên hướng đến gói kích cầu

10. …….

Nói chung không đánh đồng được tất cả, phảI suy xét từng công ty 1. và cần có cái nhìn tốt nhất:
- khi ngườI cuốI cùng rờI bỏ nó cụng chính là cơ hộI lớn nhất
- khi nó xấu nhất là chính lúc không xấu nữa
- khi nó tất nhất chính là lúc nó hết thờI rồI
- thách thức cho kẻ này là cơ hộI cho kẻ khác
- nói chung năm nay là năm có cơ hộI làm giàu lớn nhất trong nhiều năm qua. Tuy nhiên phảI biết thư giản, bình tỉnh. Trước đây thế hệ nhà đầu tư như chúng tôi phảI chờ đợI đến 4 năm mớI có mùa bộI thu 2006-2007 thì nay vài 3 năm là chuyện nhỏ và đương nhiên. Thậm chí 4-5 năm cũng chẳn thành vấn đề.
- Sự đầu tư của chúng ta phảI nhìn về phía trước, trong số ấy mức sinh lợI ở từng thờI điểm cầm kỳ vọng sát thực tế. không nên cuốn theo chiều gió.

Phân tích một số chính sách:

Ngân hàng nhà nước cho ngân hàng thương mạI cho vay tiêu dùng, vớI lãi suất thỏa thuận sẽ tạo ra các tích cực sau:

- cho vay mua nhà trả góp, khởI động trở lạI vớI mức độ rất hấp dẫn và tạo ra sự trôi chảy trong dòng bất động sản, không nóng bỏng, không tăng nhiều, không đột biến, tuy nhiên sẽ tạo cung cầu thực chất hơn, sẽ làm mát diệu cho bất động sản hơn, cũng tạo ra kích cầu tốt hơn. Và là một phần không nhỏ trong kích thích kinh tế. giờ đây nhóm có khả năng mua nhà nhỏ dần đi. Không nhiều tuy nhiên cũng bù đắp phần nào rủI ro cho bất động sản. và nhẹ đi đôi chút cho phía ngân hàng.

Hỗ trợ lãi suất 4% như vậy doanh nghiệp nằm trong diện sẽ phảI chi trả 6.5% năm là tốI đa nếu nằm trong chương trình. Chương trình này tạo ra 425.000 tỷ đồng hỗ trợ lãi suất. tuy nhiên chương trình này tác dụng rất nhỏ vào doanh thu và lợI nhuận.
Nếu chương trình tạo và kéo dài trong 2 năm thì tác dụng của nó chiếm đến 20% trên GDP (bao gồm cả khỏan cân đốI vốn của doanh nghiệp vào, số vốn kèm theo khỏan tín dụng này)
Gói kích cầu này khuyến khích được 30% tòan vốn xã hộI đầu tư cho 2 năm 2009 và 2010. như phần lớn là ngăn chặn suy thóai mạnh chứ không nhắm đến tăng trưởng.

Rất có thể trước khi kết báo cáo quý 2 lãi suất cơ bản sẽ còn 5 – 5.5% lãi suất đáy và chấp nhận tỷ giá usd 19.000 đồng. Nền kinh tế được chiếm phần lớn cho doanh nghiệp nhà nước. lúc này sau đó 4 tháng sẽ bắt đầu tác dụng. Tuy nhiên nó sẽ là gánh nặng cho các năm sau, và gánh nặng lạm phát tiềm năng. Sự tăng trưởng này là tăng trưởng bề rộng và rất nguy hiểm cho đồng tiền VND.

Đánh giá tình trạng lạm phát chung mà thế giớI sẽ gặp phảI:
Những biện pháp trên tòan thế giớI hành động rất mạnh tay, khi xã hộI tham tham gia vào vòng sóay đầu tư và tiêu dùng, sẽ tạo ra lạm phát lớn. chắc chắn các ngân hàng trung ương và chính phủ các nước sẽ tính tớI và bắt dầu kìm lạm phát ở đâu, nhận thấy và làm một cách từ từ. để khống chế được nó.
ở việt nam cũng không ngọai lệ, thậm chí có nguy hiểm hơn, tuy nhiên trước khi đến nó. Sự đánh đổI xứng đáng. Và sự thông thái của lãnh đạo sẽ biết làm mọI cách để hóa giảI êm đẹp. vấn đề quan trọng là khi nào sảy ra hẳn hay, và sự không ngoan của nó là hòan tòan là có cách. Phần còn lạI ở ngườI cầm cân nảy mực chú không phảI chúng ta.

Dự đóan:

Kinh tế thế giớI sẽ ngừng rơi vào quý 3 và quý 4 tùy quốc gia.
Kinh tế việt nam sẽ ngừng rơi vào quý 4
Tt chứng khóan sẽ đạt đáy vào cuốI quý 2 và đầu quý 3
Kết thúc năm 2009 vni sẽ nằm trong khỏan trên dướI 340điểm (+- 10%)
Đáy của vni sẽ phảI nằm ở 230-260 điểm ( vùng đáy)
Đáy mua đúng sẽ vào khỏan quý 3 (trên dướI 1 tháng tính từ khi kết thúc quý 2)

Khuyến nghị:

Không nên đầu tư lúc này, tt sẽ phảI hứng chịu một đợt giảm mạnh trong quý 1 và đầy quý 2 này.
Lúc này tình hình xấu hơn ngừoi ta tưởng nhiều.
Tranh thủ xã hàng và nắm giữ hiện nay chi khỏan 20% trở xuống. (tùy mỗI ngườI nhưng cũng không qúa 40%)

1 số thông tin có trước:
một vài quan chức chia sẽ quý một này kinh tế vn sẽ hứng chịu vớI các báo cáo tồI tệ
sẽ thực thi 5 chính sách sắp tớI tuy nhiên chỉ là chống chứ không phảI tăng
nhiều công ty nhỏ yếu kém đã vỡ nợ và đang cầm cự. nhà đầu tư cẩn thận.

bài việt này dưa trên thông tin thu thập của diều cái. Và hòan tòan mang tính cá nhân, không nhằm mục đính gì ngòai mang đến sự hiểu biết cho ai đó cảm thấy cần thiết.

thể theo lờI yêu cầu của một số anh em, bài này không post lên vào ngày mồng 6 tết mà post hôm nay mồng 8 tết. để anh em giảI quyết hàng tồn kho.

trước đây quan điểm tốt để đầu tư là căn cứ tt có sóng và có thông tin và trước khi nghĩ tết đã có 2 sóng nhỏ, ai ăn được ai mất là do mình thôi và đã có 2 sóng nhỏ. Còn tình hình cho đến hôm nay là như bài phân tích. MọI nhà đầu tư nên tính nước cờ cho mình. Không
nên quan tâm đến hay tin tưởng vào cái gì đó. Phần mềm hay chương trình máy tính gì đó chúng chỉ là những đống rác (quá khứ) không hơn không kém

bài phân tích này còn nhiều phần quan trọng và xem tạI: wwww.dieucai.wordpress.com

năm mớI thắng lợI mớI, thờI cơ mới.
Rất mong gặp mọI ngườI tạI một buổI đàm đạo café chứng khóan sắp tới.
Chân thành và chúc thắng lợi.
==============================================================================
VN-Index sẽ dao động trong khoảng 241 – 357 điểm (CafeF) – Đó là nhận định của bộ phận nghiên cứu CTCP Chứng khoán Sài Gòn SSI trong Báo cáo “Diễn biến chính 2008 và Triển vọng 2009″ thông qua phân tích kỹ thuật.

Báo cáo “Diễn biến chính 2008 và Triển vọng 2009” của CTCP Chứng khoán SSI được đưa ra cách đây ít lâu, trước khi thông tin thị trường chính thức được giãn thuế đến tháng 5/2009 được công bố.

Bức tranh kinh tế 2009

Theo nhận định của bộ phận phân tích SSI, kinh tế Việt Nam sẽ còn gặp nhiều khó khăn trong nửa đầu năm 2009, dự kiến tăng trưởng GDP sẽ xuống rất thấp, khoảng từ 5% – 5,5%. Tuy nhiên đến cuối năm, khi các giải pháp kích thích kinh tế của Chính phủ phát huy hiệu quả, kinh tế Việt Nam sẽ dần cải thiện tuy nhiên vẫn ở mức thấp.

Theo kết quả phân tích của SSI, luồng tiền nước ngoài bao gồm FDI, ODA và kiều hối đang đối mặt với nguy cơ không tăng trưởng thậm chí tăng trưởng âm trong năm 2009. Rủi ro này đi đôi với thâm hụt thương mại khiến rủi ro cán cân thanh toán trở thành một trong những thử thách lớn nhất đối với Chính phủ trong năm 2009.

Với sự sụt giảm các nguồn vốn này và khó khăn trong xuất khẩu, Việt Nam sẽ phải dựa rất nhiều vào đầu tư trong nước để đẩy mạnh tăng trưởng.

Theo bộ phận phân tích SSI, năm 2009 Việt Nam sẽ ít có cơ hội hơn cho việc đi vay từ bên ngoài. Đặt giả thiết suy thoái toàn cầu làm các dòng vốn FDI, ODA và kiều hối vào Việt Nam giảm 40% trong năm 2009, cộng với dự trữ ngoại hối gần 22 tỷ USD vào tháng 9/2008 thì khả năng thâm hụt hương mại lớn trong năm 2009 sẽ dẫn đến rủi ro tỷ giá. Điều này làm cho hoạt động vay nước ngoài trở nên khó khăn và đắt đỏ hơn.

Đối với các ngân hàng trong nước, quy trình giãn nợ, đáo nợ và nguy cơ ghi giảm tài sản khiến cho các ngân hàng trở nên thận trọng hơn. Trái phiếu Chính phủ trở thành kênh đầu tư an toàn được lựa chọn.

Giải pháp được đưa ra là giảm giá VND để nâng cao hiệu quả các dự án đầu tư công và là điều kiện quan trọng để thức đẩy tăng trưởng.

SSI cho rằng VND sẽ giảm xuống quanh mức 18.500 đồng/USD vào cuối năm 2009. Tuy nhiên, nếu giảm sâu hơn mức này sẽ khiến việc trả nợ nước ngoài của Chính phủ sẽ trở thành gánh nặng.

VN-Index sẽ dao động quanh ngưỡng 241 – 357 điểm

Theo phân tích kỹ thuật của SSI, thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009 sẽ tiếp tục trầm lắng và dao động trong khoảng từ 241 – 357 điểm. Trong trường hợp tốt nhất, VN-Index cũng sẽ không thể vượt qua được ngưỡng 389 điểm. Nhiều khả năng, mức điểm cao nhất (khoảng 327 điểm) sẽ xảy ra vào cuối năm 2009.

Tuy nhiên, mặc dù còn nhiều khó khăn, bộ phận phân tích SSI cho rằng vẫn có nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư với tầm nhìn dài hạn vào Việt Nam khi những công ty có cơ cấu tài sản lành mạnh sẽ vượt qua giai đoạn khó khăn này.

Nhưng cũng phải nói thêm rằng, khi SSI ra báo cáo này, thông tin về việc giãn thuế đến tháng 5/2009 chưa được công bố, và các kế hoạch kích cầu lãi suất của Chính phủ cũng chưa được triển khai.

Những hệ quả để lại của nền kinh tế khó khăn năm 2008 đã khiến kết quả kinh doanh của hầu hết các công ty đều không được như kỳ vọng của các nhà đầu tư do ảnh hưởng từ lãi suất, biến động tỷ giá, đầu tư tài chính thua lỗ và giảm giá hàng tồn kho.

Theo SSI, nền kinh tế sẽ tăng trưởng trở lại vào cuối năm 2009, giá cả hàng hóa sẽ tăng vọt và giá vật liệu cơ bản giảm mạnh tạo điều kiện tăng lợi nhuận cho các công ty, Các ngành hàng tiêu dùng, dược phẩm và năng lượng sẽ có nhiều khả năng duy trì được lợi nhuận do đây là các ngành phục vụ nhu cầu tiêu dùng thiết yếu.

Triển vọng ngành năm 2009

Ngân hàng

Năm 2008, lợi nhuận biên bị co hẹp do lãi suất cho vay bị khống chế bởi LSCB (LSCB đã giảm mạnh và gấp từ mức 14% xuống 8,5% vào cuối năm khiến lãi suất cho vay của các ngân hàng giảm mạnh xuống còn 12,75%, thấp hơn cả mức huy động.

- Tăng trưởng tín dụng chậm, xuống 0,7% từ mức 2,95% vào tháng 6/2008.

- Lợi nhuận dựa vào việc kinh doanh ngoại hối và nguồn vốn (mua trái phiếu lãi suất 20% – 25% với giá thấp và bán trái phiếu lãi suất dưới 10% với giá cao); kinh doanh vàng và sàn vàng, cho vay xuất nhập khẩu.

- Rủi ro hệ thống tăng cao, toàn hệ thống có 43.500 tỷ đồng nợ xấu, gấp đôi năm 2007. Tỷ lệ nợ xấu tăng lên 3,5% so với 2% năm 2007.

Năm 2009, Quý I và II sẽ rất khó khăn do lãi suất bị cắt nhanh trong thời điểm cuối năm 2008 đầu 2009 khiến lợi nhuận biên giảm xuống rất thấp.

Mặc dù được sự hỗ trợ từ gói hỗ trợ bù lãi suất 4% của Chính phủ, song tăng trưởng tín dụng sẽ ở khoảng 21% – 23%, trong khi tổng cung tiền (M2) tăng khoảng 18% – 20%. Mối quan ngại về nợ xấu và cho vay B ĐS sẽ tiếp diễn trong năm 2009.

Ngành thép

Năm 2008, các chính sách về ngành thép thay đổi liên tục, nửa đầu năm các công ty tăng trưởng mạnh do giá thép toàn cầu tăng mạnh vào tháng 6/2008 tuy nhiên cuối năm, các doanh nghiệp thép lại khốn khốn đốn với mức tồn kho cao.

Ngành bất động sản trì trệ vào cuối năm 2008 khiến nhu cầu tiêu dùng thép giảm 1/3 xuống 100.000 tấn/tháng. Năm 2009, sản lượng tiêu thụ thép xây dựng giảm xuống 4,1 triệu tấn so với 4,4 triệu tấn năm 2007.

Tháng 11, mức tiêu thụ thép tăng dần.

Nhận định, năm 2009 là năm khó khăn. Tốc độ tăng trưởng thép tiêu thụ khoảng 2-5%. Giá thép sẽ không tăng nhiều so với giá hiện tại tuy nhiên gói kích cầu vào thị trường xây dựng của Chính phủ sẽ hỗ trợ mạnh cho ngành

Ngành nhựa

Năm 2008, giá hạt nhựa PVC và HDPE biến động mạnh, lên đỉnh 1.300 – hơn 2.000 USD/tấn vào tháng 7/2008 khi dầu tăng mạnh lên 145 USD/thùng. Sau đó giảm mạnh hơn 50% xuống mức thấp nhất trong vòng 5 năm qua khiến nhiều doanh nghiệp giảm lợi nhuận thậm chí lỗ nặng.

- Lợi nhuận của các công ty nhựa bị ảnh hưởng bởi tỷ giá, lãi suất và đầu tư tài chính thua lỗ.

- Thị trường tiêu thụ sụt giảm vào cuối năm do hoạt động xây dựng suy giảm.

Tuy nhiên, hai công ty nhựa niêm yết trên sàn là công ty nhựa Bình Minh (BMP) và công ty nhựa Tiền Phong (NTP) đều có kết quả khả quan. NTP tăng trưởng 21% doanh thu và lợi nhuận sau thuế, BMP doanh thu tăng 22%, lợi nhuận đạt 97 tỷ đồng.

Năm 2009, nhận định giá hạt nhựa sẽ không giảm sâu do giá dầu gần như ở mức “đáy”.

Nhu cầu yếu nhưng các công ty vẫn kỳ vọng duy trì được lợi nhuận năm 2008. Nhận định sản xuất sẽ chậm lại khoảng 5 – 10% song tiềm năng của ngành vẫn tốt do gắn với xây dựng – là hoạt động cơ bản của nền kinh tế.

Xi măng

Năm 2008, giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, cộng thêm giá nhập khẩu clinker trở nên đắt hơn do tỷ giá tăng mạnh. Xi măng lên cơn sốt vào cuối tháng 5/2008, khan hiếm xảy ra tại thị trường miền Nam, tuy nhiên giá bán ra tại nhà mày vẫn chịu lỗ 60.000 đồng – 100.000 đồng/tấn xi măng bán ra do cam kết bình ổn giá của Chính phủ để chống lạm phát.

- Cuối năm nhu cầu giảm do các công ty xây dựng hoãn một số dự án hoặc ngừng hẳn.

- Tổng sản lượng tiêu thụ năm 2008 đạt 40 triệu tấn, tăng 11,35% so với năm ngoái.

Năm 2009, giá có thể giảm do nguồn cung tăng, dự báo sản lượng tiêu thụ năm 2009 đạt khoảng 41 triệu tấn, trong khi nguồn cung là 46.26 triệu tấn.

- Khả năng tăng giá nguyên liệu đầu vào do giá than bán cho hộ sản xuất xi măng tăng từ 500 nghìn lên 635 nghìn đồng/tấn, giá điện cũng có xu hướng tăng khiến chi phí sản xuất xi măng có thể tăng từ 6.000 – 8.000 đồng/tấn.

- Gói kích cầu hỗ trợ của Chính phủ vào ngành xây dựng có thể là cơ hội cho ngành xi măng.

Vận tải

Năm 2008, nhu cầu vật liệu xây dựng của Trung Quốc trong 5 năm qua đẩy ngành vận tải hàng khô tăng mạnh. Vận chuyển hàng rời tăng mạnh khi sức cầu tăng vọt trong khi nguồn cung (tàu) giới hạn. Giá tàu vì thế cũng đội lên theo.

- Doanh thu của các doanh nghiệp tăng mạnh trong 9 tháng đầu năm và giảm mạnh vào cuối năm.

- Từ tháng 6/2008, các nhà đầu tư phải đối mặt với khủng hoảng tín dụng đã không thể thực hiện các hợp đồng kỳ hạn trước đây, và nhu cầu nguyên liệu hàng hóa cũng giảm dần. Giá cước giảm mạnh. Tại VN, cước tàu của VSP giảm từ 70 nghìn USD/ngày xuống 9.000 USD/ngày, GMD vận chuyển hàng contener chạy tuyến nội địa nên bị ảnh hưởng ít hơn.

- Nhu cầu xăng dầu ổn định hơn nhu cầu cho vật liệu hàng hóa, PVT có doanh thu và lợi nhuận tăng mạnh do hưởng lợi từ giá cước cao trong năm, trong khi VIP và VTO bị ảnh hưởng nhẹ

Năm 2009, các công ty vận tải hàng khô như VSP hay Nosco sẽ gặp khó khăn do nhu cầu vận tải giảm mạnh do suy thoái.

- Các công ty vận tải hàng lỏng như PVT, VIP và VTO sẽ gặp khó khăn do nhu cầu nhập khẩu dầu thô giảm khi nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động. Giá cước có thể giảm tới 20% trong năm 2009.

Than

Năm 2008, sản xuất và tiêu dùng trong năm 2008 đều sụt giảm, sản lượng xuất khẩu giảm 40% so với năm 2007.

- Tăng giá bán than cho 4 hộ tiêu thụ lớn trong nước là điện, xi măng, phân bón và giấy.

- Thuế xuất khẩu tăng lên 20% từ T4/2008 (tăng 2 đợt)

Kết quả kinh doanh các công ty tương đối tốt và hoàn thành kế hoạch năm.

Năm 2009, giá xuất khẩu giảm dẫn tới kim ngạch xuất khẩu giảm. Kế hoạch của TKV đạt sản lượng sản xuất 35 – 36 triệu tấn, thấp hơn sản lượng 39,8 triệu tấn năm 2008.

- Thuế xuất khẩu giảm xuống còn 10% theo quyết định ngày 05/02 của Bộ Tài chính.

- Năm 2009 nhận định các công ty khai thác than sẽ gặp khó khăn do triển vọng xuất khẩu than không tốt.

Sữa

Năm 2008, tăng trưởng doanh số khoảng 26% so với năm 2007 (800 triệu USD) do tăng giá 15 – 20% (sữa cao cấp tăng 30 – 40%), trong khi sản lượng tăng 5-6%. Cuối quý III/2008, giá sữa bán lẻ ở VN cao nhất thế giới.

- Nguồn cung trong nước nhiều hạn chế chỉ đáp ứng khoảng 22% tổng nhu cầu, giá sữa nguyên liệu thế giới giảm mạnh.

- Vụ bê bối sữa nhiễm độc tố melamine khiến doanh số trong tháng 9 và 10 của các công ty sữa như Hanoimilk hay Ancomilk giảm 30-50%.

Năm 2009, tiêu dùng sữa trong quý I/2009 sẽ thấp hơn 20% so với cùng kỳ. Tổng doanh thu thị trường sữa năm 2009 ước đạt 900 triệu USD, tăng 12,5% so với năm 2008 do tăng giá sản phẩm cao cấp.

- Giá sữa sẽ tăng 7-9% khi các nhà sản xuất sữa nước ngoài tăng cường xuất khẩu sang VN.

- Xu hướng tăng cường nhập ngoại sữa nguyên liệu.

Lợi nhuận các công ty sữa có thể tăng 15-16% do giá nguyên liệu giảm.

Phương Mai

Ý kiến độc giả 0
Gửi ý kiến

Tin mới cập nhậtBưu chính Viettel chuẩn bị IPO (12/02)
27/02 là hạn chót nộp kế hoạch tăng vốn (12/02)
FPT Elead chào bán 20% cổ phần ra công chúng (12/02)
Tin khácKhối ngoại ồ ạt bán ra (12/02)
Diễn biến hoàn toàn trái ngược trên hai sàn (12/02)
Mùa đại hội cổ đông đã đến! (12/02)
Nên sớm đưa các doanh nghiệp bị lỗ tại HaSTC vào diện kiểm soát (12/02)
Bấp bênh ngưỡng 275 điểm (12/02)
Lịch sự kiện và tin vắn chứng khoán nổi bật ngày 12/02/09 (12/02)
Đấu thầu 1.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ (12/02)
Nơi “trú bão” an toàn (12/02)
Giao dịch trái phiếu đột ngột tăng mạnh (11/02)
Sẽ vẫn được giao dịch tại HaSTC nhưng thuộc diện cảnh báo (11/02)
=============================================================================
1 Báo cáo triển vọng chứng khoán 2009: Cái nhìn thận trọng

(LĐ) – Chào đón năm 2009, một số tổ chức tài chính trong nước đã đồng loạt công bố các báo cáo phân tích triển vọng kinh tế vĩ mô và TTCK với cái nhìn thận trọng.
Những khó khăn của thị trường tiêu dùng lẫn thị trường vốn quốc tế được đánh giá sẽ tác động mạnh đến triển vọng của tăng trưởng vĩ mô cũng như của DN. TTCKVN do vậy cũng sẽ phải chật vật để chứng tỏ sự hấp dẫn nhằm kéo nguồn vốn trở lại.

Bài toán xuất khẩu

Hoạt động xuất khẩu (XK) vốn chiếm tới trên 60% tổng giá trị GDP nên kim ngạch đem lại đã trở thành nguồn thu chính cho quốc gia. Đối với các DN, đặc biệt là các DN niêm yết, hoạt động XK cũng là mảng kinh doanh quan trọng, thậm chí là chủ đạo đối với một số ngành nghề như caosu, thủy sản…

Theo Báo cáo “Việt Nam 2009: Gập ghềnh phía trước” của CTCK Sacombank (SBS), trong bức tranh kim ngạch XK đẹp năm 2008 có dấu ấn của biến động tăng giá. Tuy nhiên lợi thế này sẽ không còn trong năm 2009 do tính đến thời điểm này các mặt hàng tăng giá mạnh trong năm qua đã quay trở lại mặt bằng giá hoặc thấp hơn như dầu thô, caosu, than, càphê… Với diễn biến giá này, nếu sản lượng XK 2009 bằng 2008 thì kim ngạch chắc chắn giảm. Đáng ngại là giá trị của nhóm mặt hàng chịu rủi ro về giá lại chiếm tới gần 30% tổng giá trị XK 2008.

Tác động thứ hai là sự thu hẹp của thị trường. Các báo cáo về sức tiêu dùng của một số thị trường lớn như Mỹ, Nhật, EU đều cho thấy những con số rất xấu và bản thân các ngành sản xuất hàng tiêu dùng tại các thị trường đó cũng bị ảnh hưởng. Điều đó cho thấy khả năng hấp thu hàng XK của các quốc gia khác, trong đó có VN chắc chắn sẽ giảm sút. Hiện 3 thị trường lớn này chiếm khoảng 50% kim ngạch XK 2008.

Tác động thứ ba là áp lực cạnh tranh ngày càng cao và là hệ quả tất yếu của việc thị trường bị thu hẹp. Những quốc gia XK khác cũng sẽ tìm mọi cách để đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa của mình. Triển vọng XK nói chung của VN 2009 sẽ phụ thuộc vào khả năng đa dạng hóa thị trường.

Những khó khăn của XK 2009 sẽ tác động lớn đến các DN niêm yết dựa nhiều vào hoạt động này, đặc biệt là các DN dựa quá nhiều vào các thị trường truyền thống. Theo khuyến cáo của các tổ chức tài chính, NĐT cần đặc biệt chú ý đến rủi ro này bằng cách phân tích thị trường tiêu thụ của DN cũng như khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Phân tích của SBS cho rằng hai quý đầu 2009 sẽ là thời điểm DN XK khó khăn nhất khi sức tiêu thụ của thị trường giảm mạnh sau mùa mua sắm cuối năm.

Tỉ giá giảm có hấp dẫn ngoại tệ?

Biến động tỉ giá 2008 đã đem lại bài học lớn cho các DN. Báo cáo tài chính của DN niêm yết đã cho thấy những diễn biến trái chiều: VND giảm giá giúp DN XK hưởng lợi và ngược lại, DN nhập khẩu gặp khó khăn. Diễn biến tỉ giá 2009 được dự báo sẽ theo hướng giảm giá VND nhằm hỗ trợ XK. Việc chủ động nâng tỉ giá VND so với USD và nới rộng biên độ của NHNN là biểu hiện rõ ràng nhất.

Theo báo cáo của CTCK Bản Việt (VCSC), một yếu tố nữa gây áp lực giảm giá VND là nguồn cung USD sụt giảm. Không chỉ khó khăn từ hoạt động XK, mức vốn giải ngân ODA, FDI và vốn gián tiếp năm 2009 sẽ không thể dồi dào như 2008. Tính toán của VCSC cho thấy năm 2008 VND mới trượt giá khoảng 8,6% so với USD trong khi các nước khu vực phá giá trung bình 15%. Nếu tính cả yếu tố giảm giá USD trên thế giới do Mỹ triển khai các gói cứu trợ kinh tế thì khả năng giảm giá mạnh của VND là không cao.

Dự kiến tỉ giá 2009 sẽ dao động trong khoảng 17.500VND-18.375VND/USD. Theo ông Ken Tai Chee Ming, chuyên gia phân tích của CTCK KimEng, hiện các hợp đồng kỳ hạn không chuyển giao (NDF) của VND với USD đang ở mức 19.878 VND/USD cho thấy những lo ngại về tiềm năng XK của VN.

Một hệ quả dễ hiểu của việc giảm tỉ giá đối với hoạt động đầu tư là NĐTNN khi mang USD vào VN có thể đổi ra được nhiều VND hơn. Về mặt lý thuyết điều đó là có lợi. Tuy nhiên, xét từ góc độ đầu tư, triển vọng tăng trưởng mới mang ý nghĩa quyết định hơn là chỉ chênh lệch tỉ giá. Mặt khác, nếu VND tiếp tục bị giảm giá do những khó khăn về kinh tế thì NĐTNN lại bị thiệt khi chuyển đổi sang USD.

Theo phân tích của Cty Dragon Capital, xu hướng rõ ràng về sự mất giá đồng nội tệ sẽ gây xáo trộn mạnh trong việc dịch chuyển vốn. Mặt khác, khó khăn tài chính toàn cầu chắc chắn làm giảm khối lượng vốn chảy vào các nước đang phát triển. Tuy nhiên nỗi lo sợ về khả năng rút vốn ồ ạt cũng rất thấp vì NĐTNN hiện chỉ còn nắm giữ khoảng 3 tỉ USD CP và 500 triệu USD trái phiếu. Con số này đến nay có thể thay đổi chút ít do hoạt động bán ròng trái phiếu của khối này vẫn đang diễn ra.

Cùng quan điểm này, SBS cho rằng dòng vốn FII vào của 2009 sẽ giảm mạnh, nhưng áp lực bán của NĐTNN cũng đã giảm. Những tổ chức chịu áp lực bán cũng đã hoàn thành việc bán trong 4-5 tháng qua và ngày càng ít đi. SBS kỳ vọng TTCKVN sẽ khởi sắc từ nửa cuối 2009 khi tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu hồi phục. Tiến trình IPO hợp lý sẽ là động lực thu hút vốn FII quay lại.

Kinh tế khó khăn: Phân bổ vốn vào ngành nào?

Phân tích của VCCS, trong bối cảnh khó khăn, NĐT nên tập trung vào những CP có tính chất phòng thủ và ít bị ảnh hưởng theo chu kỳ kinh doanh.

4 lĩnh vực được khuyến cáo tăng tỉ trọng đầu tư là dược phẩm (tốc độ tăng trưởng ngành kỳ vọng 10% năm 2009); thực phẩm và hàng tiêu dùng (chú ý DN có thị trường nội địa); công nghệ và viễn thông; điện (đầu ra ổn định và đang trong lộ trình tăng giá). Hai lĩnh vực được khuyến cáo giảm tỉ trọng là bất động sản và ngân hàng.
==========================================================================
Năm 2008, thị trường suy thoái (bear market) đã ngự trị trong hầu hết các loại tài sản như chứng khoán, trái phiếu… Chỉ số VN-Index đã giảm từ mức 921 điểm hồi đầu năm xuống còn 315 điểm cuối năm, tương đương giảm 68% và là mức giảm nhiều nhất ở châu Á.

Nhìn vào năm 2009, Spencer White, cựu Trưởng nhóm Phân tích chứng khoán của Merrill Lynch khu vực châu Á – Thái Bình Dương tin rằng, những bất ổn đang giảm đi, niềm tin nhà đầu tư đang tăng lên và dấu hiệu về cơ hội đầu tư cũng đang lớn dần.

Lợi nhuận doanh nghiệp sẽ được cải thiện và xu hướng hồi phục đối với một số cổ phiếu tốt sẽ đến.

Spencer cho rằng, mặc dù sụt giảm mạnh nhất trong khu vực châu Á, TTCK Việt Nam vẫn ở vị thế hồi phục tốt hơn trong năm 2009. Sau khi giảm 68%, giá cổ phiếu đã gần như phản ánh toàn bộ các yếu tố xấu tác động đến nền kinh tế có thể còn xuất hiện rải rác trong vòng 6 tháng tới.

“Tôi cho rằng, Vn-Index sẽ tăng trong năm 2009 do chính sách tiền tệ tiếp tục được nới lỏng. Tuy nhiên, thị trường vẫn bất ổn với những đợt tăng giá mạnh (rally) cùng với những đợt chốt lời (profit taking)”, Spencer – Cố vấn chiến lược của CTCK Thiên Việt nói.

Theo ông, các chỉ số kinh tế vĩ mô sẽ còn “yếu” trong năm 2009 cộng với tình hình kinh tế thế giới vẫn diễn biến xấu, nhưng bên cạnh khó khăn, những cơ hội rất lớn sẽ tới. “Không nghi ngờ gì, cơ hội trên TTCK Việt Nam sẽ xuất hiện trong vòng 12 tháng tới. Giá cổ phiếu sẽ hồi phục trước khi nền kinh tế hồi phục”, Spencer nói.

Ông Hoàng Xuân Quyến, Giám đốc Nghiên cứu và đầu tư của CTCK Tân Việt thì cho rằng, dường như những khó khăn nhất đã thuộc về năm 2008 và hy vọng TTCK năm 2009 sẽ tốt hơn.

“TTCK vẫn có những giai đoạn thử thách, chí ít cũng hết quý I/2009. Tuy nhiên, năm nay có thể được xem là năm tiến tới xu thế bình ổn để tạo đà cho năm 2010″, ông Quyến nói.

Ông Louis Nguyễn, Giám đốc điều hành Công ty Quản lý quỹ Saigon Asset Management thì cho rằng, 2009 sẽ là năm khó khăn cho TTCK Việt Nam. “Điều này là do thị trường phản ứng với kết quả kinh doanh kém của DN trong năm 2008. Ngoài ra, TTCK Việt Nam cũng phụ thuộc vào TTCK thế giới”, ông Louis khẳng định.

Đối với vấn đề vốn ngoại trong năm 2009, Min Hwa Kupfer, Chủ tịch Vietnam Holding Asset Management cho rằng, khi các thị trường quốc tế ổn định lại, luồng vốn chảy tới các thị trường mới nổi có tốc độ tăng trưởng cao sẽ quay lại. “Các thị trường châu Á như Trung Quốc, Singapore sẽ được hưởng lợi trước, sau đó sẽ tới lượt Việt Nam”, ông Kupfer phát biểu.

Ông Quyến cho rằng, luồng vốn đầu tư nước ngoài ước 3 tỷ USD đang đổ vào cổ phiếu và trái phiếu ước cũng chừng đó, sau khi họ đã bán ròng trong thời gian qua. “Tôi nghĩ là nguồn vốn này vẫn sẽ ở lại Việt Nam vì mức độ tăng trưởng của TTCK Việt Nam trong trung hạn và dài hạn hấp dẫn hơn nhiều”, ông Quyến dự đoán.

“Khả năng tăng thêm của luồng vốn ngoại trong năm 2009 sẽ ít trở nên hiện thực vì khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến các quỹ rất khó huy động thêm vốn mới. Mặt khác, hầu hết các quỹ và nhà đầu tư cá nhân đều thua lỗ nặng, một số quỹ thậm chí đã phải trả lại tiền cho cổ đông”, ông Quyến nói.

Với năm 2009 đầy cơ hội nhưng cũng không ít thách thức, các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân, sẽ cảm thấy khó khăn trong quyết định đầu tư.

“Tôi sẽ đầu tư vào các công ty được quản lý tốt ở những thời điểm thuận lợi nhất. Đầu tư phong trào sẽ rất nguy hiểm. Nhà đầu tư cần phải hiểu họ đang mua gì, hiểu rủi ro và lợi nhuận như thế nào. Thị trường sẽ tăng nhưng cũng sẽ bất ổn”, ông Spencer khuyên và cho biết, ông thích những công ty như đô thị, tiêu dùng, hạ tầng, năng lượng…

Ông Kupfer thì khuyên nhà đầu tư tập trung vào những công ty có kết quả kinh doanh tốt, có vị thế hàng đầu trong lĩnh vực kinh doanh chính, tài chính lành mạnh, quản lý và quản trị công ty tốt và điều quan trọng là mua và nắm giữ ít nhất 2 năm với tiền của mình, chứ không vay mượn để đầu tư.

Ông Spencer cũng kiến nghị cơ quan quản lý thị trường cần tiếp tục quá trình tăng cường minh bạch thông tin, quản trị và rút ngắn quá trình cấp phép cho nhà đầu tư tổ chức, tăng sở hữu nước ngoài, cho phép mở nhiều tài khoản, bán khống và điều quan trọng là giá cổ phiếu phải được thị trường quyết định…

Năm 2008, TTCK Việt Nam chịu hai cú sốc. Thứ nhất, lạm phát tăng cao vào đầu năm 2008 và Chính phủ thắt chặt chính sách tiền tệ khiến TTCK tụt dốc không phanh từ mức 921,07 điểm xuống 366,02 điểm hôm 20/6, giảm 60%.

Thị trường sau đó hồi phục lên 561,85 điểm vào ngày 27/8 và sau đó lại bị cú sốc khủng hoảng tài chính toàn cầu nhấn chìm xuống 286,85 điểm vào ngày 10/12, mức thấp nhất trong nhiều năm qua.

Tuy nhiên, VN-Index sau đó hồi phục và kết thúc năm 2008 ở mức 315,62 điểm, hay tăng 10% từ mức đáy. “Có lý do để hy vọng cho năm 2009″, ông Kupfer tin tưởng.
==========================================================================
Năm 2008 được đánh giá là một năm đầy sóng gió đối với thị trường chứng khoán Việt Nam và được xem là xấu nhất trong suốt hơn 8 năm hoạt động, do chịu ảnh hưởng từ những biến động lớn của kinh tế thế giới và trong nước.

Sự sụt giảm mạnh của thị trường chứng khoán thể hiện rõ nhất qua chỉ số giá chứng khoán tại hai sàn niêm yết HASTC và HOSE.

So với thời điểm đầu năm 2008, HaSTC-Index và VN-Index giảm tương ứng 67,2% và 66,9%. Các công ty chứng khoán là những người hơn ai hết hiểu rõ nhất những khó khăn này.

Liệu khó khăn của năm 2008 có còn kéo dài đến năm 2009 không? Đại diện cơ quan quản lý, hiệp hội và lãnh đạo một số công ty chứng khoán đã chia sẻ với chúng tôi những cảm nhận thị trường trong ngày đầu xuân Kỷ Sửu.

“Năm 2008 chưa phải là đáy”

(Ông Nguyễn Duy Hưng – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn – SSI)

“Theo tôi, năm 2009 sẽ nhiều khó khăn hơn năm 2008. Những vấn đề mà nền kinh tế sẽ phải đối mặt là thiểu phát, thiếu vốn, khó khăn trong việc tìm nguồn tiền cân bằng cán cân thanh toán và thậm chí cả mối đe doạ lạm phát trở lại…

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trong năm 2008 được nhiều người nhìn nhận còn lớn hơn cuộc khủng hoảng năm 1929 và kinh khủng hơn cả năm 1997.

Điều này có nghĩa là những gì diễn ra trong năm 2008 chưa phải là đáy.

Đối với SSI, chúng tôi cũng đang thu thập thông tin để phân tích và xây dựng chiến lược cho riêng mình.

Tuy nhiên, mục tiêu mà chúng tôi hướng tới trong năm 2009 là giữ vững để qua cơn bão hơn là tăng trưởng. Để làm được việc này thì việc đầu tiên là siết lại hệ thống.

SSI cũng xác định khó khăn chỉ là trước mắt, việc lên kế hoạch sẽ ngắn hạn, 3-6 tháng sẽ điều chỉnh chiến lược theo điều kiện và hoàn cảnh. Năm 2009, SSI sẽ tập trung đầu tư vào những doanh nghiệp hàng đầu với giá xoay quanh giá trị sổ sách.

Mua cổ phiếu của các doanh nghiệp loại này với giá trị sổ sách có thể ví như cơ hội góp vốn làm cùng vì người mua không phải trả những chi phí cơ hội để gây dựng doanh nghiệp trước đó.

Bên cạnh đó, trong năm 2009, SSI cũng sẽ trình làng những sản phẩm đầu tư tài chính hoàn toàn mới trên cơ sở kỳ vọng và suy nghĩ của những người có tiền”

“Tin rằng sẽ có thêm cơ hội”

(Bà Josephine Yei, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán SaigonBank Berjaya – SBBS)

“Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện tại đang trong giai đoạn bất lợi cho tất cả các công ty chứng khoán, song điều quan trọng nhất là tình hình này ảnh hưởng như thế nào đến từng công ty.

Khi SBBS bắt đầu đi vào hoạt động, Việt Nam và đặc biệt là thị trường chứng khoán trong thời gian đó rất mất ổn định, chỉ số VN-Index giảm hơn 60% so với cùng kỳ đầu năm, bản thân chúng tôi cũng không dám khẳng định liệu thị trường chứng khoán sẽ hồi phục hay còn tuột dốc nặng nề hơn.

Chúng tôi đã từng vượt qua nhiều giai đoạn khủng hoảng tại đất nước của mình, ví dụ như khủng hoảng tài chính đánh vào Malaysia năm 1997.

Bởi thế, chế ngự rủi ro và bảo toàn vốn luôn là nhiệm vụ hàng đầu của chúng tôi trong việc quản lý mọi hoạt động tính theo đơn vị ngày.

Năm 2009 là một năm khó khăn cho thị trường chứng khoán Việt Nam cũng như những thị trường chứng khoán khác trên thế giới. Đây là vấn đề không chỉ của Việt Nam mà còn của toàn thế giới.

Điều này tùy thuộc rất nhiều vào Chính phủ, các cơ quan chức năng và tất cả các tổ chức trung gian trên thị trường chứng khoán trong đó có các công ty chứng khoán, họ phải làm việc cùng nhau để giúp thị trường chứng khoán Việt Nam hồi phục nhanh hơn và thu hút nhiều nhà đầu tư hơn những thị trường khác.

Điều này cần sự hỗ trợ từ nhiều phía và không thể chỉ phụ thuộc vào cá nhân bên nào. Chúng ta phải tích cực thúc đẩy thị trường hồi phục chứ không chỉ khoanh tay ngồi chờ đợi.

Một khi nền kinh tế thế giới đã phục hồi, chúng ta đã phải trong tư thế sẵn sàng cạnh tranh để thu hút nhiều nguồn đầu tư nước ngoài về Việt Nam thay vì vào những nước khác…

Nhìn chung, chúng tôi nhận thấy thị trường Việt Nam có những tiềm năng cực kỳ lớn để phát triển. Số lượng những tài khoản giao dịch chứng khoán được mở hiện nay chỉ chiếm khoảng 0,6% dân số và giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán chỉ chiếm khoảng 15% GDP Việt Nam nếu so với thị trường chứng khoán các nước trong khu vực (chiếm bình quân 45% GDP).

Ngoài ra, sẽ có thêm hơn 800 doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa trong vòng 3 năm tới. Chúng tôi tin tưởng rằng sẽ có thêm nhiều cơ hội cho hoạt động chứng khoán phát triển và trở nên thịnh vượng tại Việt Nam”.

“Quy trình IPO có nhiều bất cập”

(Ông Nguyễn Ngọc Cảnh, Trưởng ban Hợp tác quốc tế, Ủy ban Chứng khoán)

“Việc cổ phiếu của các công ty niêm yết mất giá đến 70% trên thị trường là kết quả của việc giá cổ phiếu được đẩy lên quá cao, gây ra hiện tượng bong bóng.

Nay tình hình đã ở chiều hướng ngược lại, tuy nhiên việc giá trị cổ phiếu đã bị pha loãng quá nhiều trong thời gian vừa qua vẫn chưa được khắc phục.

Do đó, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có thể yêu cầu các công ty đại chúng thực hiện việc mua lại cổ phiếu của chính mình song song với việc giảm vốn điều lệ chứ không làm cổ phiếu quỹ như trước đây, hạn chế hoặc cấm việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt, không khuyến khích các công ty có lợi nhuận thấp trong năm trích quỹ khen thưởng cho nhân viên. Để thị trường chứng khoán hồi phục và tăng trưởng trong thời gian tới, chúng tôi cũng có đề xuất nên có mức độ xử phạt nặng tính theo tỷ lệ doanh thu của doanh nghiệp.

Chúng tôi cũng đồng tình với ý kiến là quy trình thực hiện IPO ở các doanh nghiệp nhà nước đang có nhiều bất cập, cản trở kế hoạch thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

Tuy nhiên, cần làm rõ khái niệm thế nào là nhà đầu tư chiến lược, bởi có nhiều nhà đầu tư chiến lược cả nước ngoài lẫn trong nước đều không có nhiều đóng góp cho doanh nghiệp, tức vai trò cũng chỉ như nhà đầu tư nhỏ lẻ.

Vấn đề không phải nằm ở quy trình thực hiện IPO mà nằm ở chiến lược cổ phần hóa doanh nghiệp.

Mục đích chính của cổ phần hóa doanh nghiệp không chỉ nằm ở đa dạng hóa sở hữu, mà là nâng cao hiệu quả hoạt động của chính các doanh nghiệp được cổ phần hóa.

Nhưng với cách làm như hiện nay, bộ máy quản lý của các doanh nghiệp không có gì thay đổi so với trước cổ phần hóa nên đã đánh mất ý nghĩa của việc cổ phần hóa.

Đối với vấn đề này, chúng tôi đề xuất thực hiện bán trọn gói kiểm soát cho một nhà đầu tư chiến lược thông qua phương thức đấu giá công khai, đi kèm với các cam kết đầu tư và phát triển doanh nghiệp.

Sau khi thực hiện bán cổ phiếu cho nhà đầu tư chiến lược, Nhà nước sẽ thực hiện theo từng giai đoạn việc bán cổ phần còn lại của mình cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ trên thị trường chứng khoán.

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đề xuất ngừng việc chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước thành các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hay chỉ cổ phần hóa một tỷ lệ rất nhỏ dưới 20%. Việc chuyển đổi như thế này đã tạo ra một lỗ hổng trong cơ chế quản lý”.

“Phá sản đối với công ty chứng khoán sẽ dễ hơn sáp nhập”

(Ông Nguyễn Thanh Kỳ, Tổng thư ký Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán)

“Vừa qua, Chính phủ đã thông qua gói kích cầu để hỗ trợ nền kinh tế. Nếu việc kích cầu này hiệu quả sẽ giúp ích cho doanh nghiệp rất nhiều. Nếu nền kinh tế khởi sắc sẽ tạo đà cho sự phát triển của thị trường chứng khoán.

Tuy nhiên, nếu chỉ “kích” vào khu vực sản xuất, kinh doanh vẫn là chưa đủ và cần phải “kích” cả tiêu dùng.

Đối với các công ty chứng khoán, theo tôi, với các giải pháp vừa qua (kích cầu sản xuất kinh doanh; giãn, giảm thuế…) các công ty chứng khoán không được hưởng lợi nhiều.

Trong khi, công ty chứng khoán là tổ chức quan trọng trên thị trường chứng khoán.

Và nếu Chính phủ thực sự quan tâm hay quan tâm đầy đủ đến thị trường chứng khoán thì cũng nên kiến nghị, bỏ đánh thuế thu nhập đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán.

Ngoài ra, Nhà nước cũng nên có các biện pháp hỗ trợ các công ty chứng khoán như cho phép họ mở ra các nghiệp vụ khác như phái sinh, tất nhiên, điều này cũng sẽ đụng đến chính sách. Tôi cũng nghĩ rằng, vai trò của Ủy ban Chứng khoán cũng cần phải được đề cao hơn nữa.

Năm 2009, theo tôi, nếu gặp khó khăn thì chuyện phá sản đối với công ty chứng khoán sẽ dễ hơn việc sáp nhập bởi đặc thù của văn hóa Việt Nam khác với nhiều nước khác.

Chuyện một công ty chứng khoán trong nước sáp nhập công ty chứng khoán khác hay mua một phần công ty chứng khoán là rất khó dù rằng có cơ chế”.
========================================================================
Thị trường chứng khoán năm 2009: Cẩn trọng với ngành bất động sản…

Nhân dịp đầu năm Kỷ Sửu, Vietstock – tổ chức cung cấp thông tin tài chính, chứng khoán độc lập ra đời lâu nhất tại Việt Nam – đã có những phân tích tổng hợp về toàn cảnh thị trường chứng khoán cũng như dự báo nên đầu tư vào cổ phiếu những ngành kinh tế quan trọng.
Đầu tư vào đâu? trong bối cảnh thị trường chứng khoán (TTCK) hiện nay? Nhóm nghiên cứu của Vietstock khẳng định quan điểm khá rõ ràng: “Mặc dù TTCK có thể tăng điểm trong năm 2009, nhưng điều này không đồng nghĩa cứ đầu tư là sẽ thắng! Giá cổ phiếu sẽ có sự phân hóa giữa những ngành nghề khác nhau dựa trên triển vọng của ngành. Từ những phân tích nhận định, đánh giá về tình hình kinh tế, chúng tôi tin rằng nhà đầu tư có cơ hội trong ngành điện, ngành bán lẻ nhưng cần cẩn trọng với những rủi ro trong các ngành như ngân hàng, chứng khoán, bất động sản”.
Khó khăn cho ngân hàng, chứng khoán và bất động sản
6 tháng cuối năm 2008 là thời điểm ngành ngân hàng buộc phải giảm dần lãi suất để tăng cung tiền giúp phục hồi nền kinh tế và đứng trước nhiều khó khăn khi doanh nghiệp vẫn chưa mặn mà vay vốn. Ông Phan Duy Đạt, Trưởng nhóm nghiên cứu Vietstock nhận định: “Do lãi suất đã giảm khá sâu, thị trường trái phiếu khó đem lại nhiều “quả ngọt” như năm 2008”.
Không riêng ngân hàng, ngành chứng khoán với tốc độ tăng trưởng vượt bậc vài năm qua cũng đứng trước thử thách thật sự lớn lao. VN-Index và HASTC-Index giảm khoảng hơn 65% giá trị trong năm 2008 và giá trị giao dịch bình quân cả 2 thị trường chỉ còn dưới 200 tỷ đồng trong những ngày trước Tết Nguyên đán.
“Dựa theo các kịch bản mà chúng tôi đưa ra, khả năng phục hồi lớn nhất của TTCK năm 2009 là mức 420 điểm. Quan trọng hơn, nguồn thu chủ yếu của các CTCK là tự doanh sẽ không đảm bảo được đà tăng trưởng trước đây”, ông Đạt đánh giá.
Đối với thị trường bất động sản, nơi giới đầu tư đang rất thận trọng quan sát cũng tiềm ẩn đầy rủi ro như dự báo của nhóm chuyên gia Vietstock: “Thị trường BĐS dự báo sẽ tiếp tục xu hướng giảm giá trong năm 2009. Dòng vốn FDI cũng không đem lại nhiều hy vọng. Theo nghiên cứu của chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright và Đại học Harvard Kennedy School, cơ cấu vốn vay chiếm đến 70% trong dòng vốn FDI nên sự ách tắc tín dụng toàn cầu có thể khiến các dự án (trong đó có dự án BĐS tại Việt Nam) khó triển khai. Ở trong nước, dù các khoản cho vay BĐS được cam kết kích hoạt trở lại, nhưng thực tế nhiều tổ chức tín dụng sẽ chưa mạnh dạn triển khai, vì mục tiêu quản trị rủi ro vẫn được xem xét ở mức độ ưu tiên hơn so với tăng trưởng tín dụng”.
Cần nói thêm, giá bất động sản nhiều nơi tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và TPHCM tăng gần gấp đôi trong 3 tháng đầu năm trước khi kinh tế Việt Nam bị cuốn theo cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu sau đó.
10 tháng trôi qua, giá BĐS tuy có giảm nhưng vẫn dừng ở mức giá tương đương thời điểm cuối năm 2007. Như vậy, ngoài việc bị đóng băng, thị trường này vẫn tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng giá lần nữa.

Kỳ vọng từ điện và bán lẻ
Trong một nền kinh tế có quá nhiều khó khăn như hiện nay, nhà đầu tư có thể bỏ tiền vào đâu? Vietstock đưa dự báo và khuyến nghị khá tích cực cho 2 lĩnh vực điện và bán lẻ.
“Ngành điện có nhiều tiềm năng phát triển vì khả năng cung ứng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu trong nước, ngoài ra giá bán điện đang có chiều hướng điều chỉnh tăng lên ngang bằng với các nước trong khu vực.
Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng 6,5% của nền kinh tế trong năm 2009, ngành điện phải tăng trưởng khoảng 13%. Hiện nay, Chính phủ đang thực hiện các giải pháp như hỗ trợ tín dụng, bảo lãnh tín dụng… nhằm đẩy nhanh việc xây dựng các dự án điện”, ông Đạt cho biết.
Giá điện đang “hăm he” tăng và nếu như vậy, điều này vô tình lại “tốt” trong mắt nhà đầu tư khi nhìn về ngành điện. Cổ phiếu ngành này cũng đã lên sàn khá nhiều và dễ dàng cho nhà đầu tư tìm mua như PPC của Nhiệt điện Phả Lại, VSH của Thủy điện Vĩnh Sơn Sông Hinh, TBC của Thủy điện Thác Bà, KHP của Điện lực Khánh Hòa…
Trong khi đó, ngành bán lẻ với dự báo có thể lao đao đã đảo chiều phá tan lo ngại một cách đầy ngoạn mục. Sức mua tiêu dùng của người dân tăng vọt 30%-40% trước Tết Nguyên đán khiến ngay cả những nhà bán lẻ lạc quan nhất cũng không thể nghĩ ra. Bất kể khó khăn trong năm khiến người lao động giảm thu nhập và tiền thưởng thì mọi người vẫn mua sắm kéo theo hàng loạt siêu thị điện máy, thực phẩm, tổng hợp… đều cháy hàng.
Với việc Chính phủ đang quan tâm kích cầu tiêu dùng trở lại trong gói kích thích kinh tế trị giá 1 tỷ USD, ngành bán lẻ đang có thêm lợi thế to lớn khác.
=============================================================
HSBC dự báo chứng khoán Việt Nam 2009
Trong báo cáo Vietnam Monitor ra tháng 1/2009, Tập đoàn Ngân hàng Hồng Kông – Thượng Hải (HSBC) đã tổng kết thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2008 và đưa ra 5 điểm cần lưu ý đối với thị trường trong năm nay.
Các chuyên gia của HSBC cũng dự báo, mốc VN-Index cuối năm nay sẽ là 300 điểm.

2008, thị trường Việt Nam “tệ” nhất châu Á

HSBC cho rằng, thị trường chứng khoán Việt Nam đang ngày càng trở nên nhỏ bé và không còn được giới đầu tư nước ngoài quan tâm nhiều như trước đây. Năm 2008, tính theo USD, VN-Index sụt mất 69%, mức giảm tồi tệ nhất trong số các thị trường chứng khoán ở châu Á. Chỉ số MSCI của thị trường chứng khoán châu Á, trừ Nhật Bản, chỉ giảm có 53% trong năm qua. Trong 6 tuần cuối năm, các thị trường thuộc chỉ số MSCI châu Á – trừ Nhật – phục hồi 23%, trong khi đó, thị trường chứng khoán Việt Nam giảm 6%.

Các chuyên gia thực hiện báo cáo nhận định, thị trường chứng khoán Việt Nam đã ra khỏi tầm ngắm của nhiều nhà đầu tư tổ chức của nước ngoài. Hiện không có một doanh nghiệp nào niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có giá trị vốn hóa trên 1 tỷ USD mà các nhà đầu tư nước ngoài còn có thể mua thêm cổ phiếu. Trên thực tế, chỉ có 5 công ty niêm yết có giá trị vốn hóa từ 500 triệu USD trở lên là vẫn còn “room” cho các nhà đầu tư ngoại rót vốn. Tuy nhiên, những cổ phiếu này chỉ phù hợp với những quỹ đầu tư quy mô nhỏ.

Khối lượng giao dịch trên thị trường cũng tiếp tục sụt giảm. Tại sàn Hà Nội, giá trị giao dịch trong tháng 12 chỉ ở mức bình quân 14 triệu USD mỗi ngày.

Với những phân tích trên, HSBC cho rằng, sự chú ý của giới đầu tư nước ngoài đối với thị trường chứng khoán Việt Nam đã giảm mạnh trong mấy tháng gần đây. Từ tháng 9 tới nay, khối ngoại luôn là lực lượng bán ròng trên thị trường chứng khoán Việt Nam, với tổng lượng bán ròng là 127 triệu USD. Hoạt động bán ra của các nhà đầu tư ngoại trong tháng 12 có chậm lại, tuy nhiên, hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài đều đã bán hết cổ phiếu Việt Nam, trừ các quỹ đầu tư chuyên về thị trường này.

Trong vụ IPO của Ngân hàng Vietinbank hồi tháng 12 – vụ IPO lớn nhất ở Việt Nam trong 12 tháng qua – chỉ có 3 nhà đầu tư ngoại chào mua.

Trong báo cáo mới nhất về thị trường châu Á dành cho quý 1/2009, HSBC giảm tỷ lệ khuyến nghị cổ phiếu Việt Nam trong danh mục đầu tư xuống mức 0%. Các chuyên gia của ngân hàng này cho rằng, ngay cả khi các nhà đầu tư chứng khoán toàn cầu muốn đầu tư rủi ro trở lại, các thị trường khác ở châu Á vẫn sẽ hấp dẫn hơn thị trường Việt Nam. Tính minh bạch hạn chế trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, cũng như những hạn chế trong chính sách vĩ mô của Việt Nam năm 2008 khiến giới đầu tư nghi ngờ về tính hấp dẫn dài hạn của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Mặt khác, việc Việt Nam phụ thuộc nhiều vào vốn FDI và hoạt động xuất khẩu sẽ tạo nhiều áp lực cho nền kinh tế trong năm 2009. Báo cáo nhận xét, tinh thần doanh nghiệp và sức hấp dẫn về dân số của Việt Nam sẽ giúp thị trường chứng khoán Việt Nam tới một lúc nào đó sẽ hấp dẫn trở lại, nhưng chưa phải là trong một vài quý tới đây.

5 yếu tố cần theo dõi

Vậy đâu là những yếu tố sẽ quyết định thị trường chứng khoán Việt Nam có thể có một năm 2009 thành công hơn?

Báo cáo HSBC có chỉ ra 5 yếu tố:

Thứ nhất là vấn đề lợi nhuận doanh nghiệp. Một vấn đề lớn của thị trường chứng khoán Việt Nam là báo cáo tài chính kém minh bạch. Thực trạng này một phần bắt nguồn từ sự thiếu vắng những dự báo nhất quán do có quá ít các nhà phân tích theo dõi các công ty niêm yết. Ngoài ra, chỉ những báo cáo tài chính cuối năm mới được kiểm toán và những khoản hao hụt tài sản lớn bất thường thường chỉ được công bố vào cuối năm.

Thứ hai là các chương trình cổ phần hóa. Năm ngoái, từ sau vụ cổ phần hóa Vietcombank vào cuối năm 2007, thị trường chứng khoán Việt Nam gần như vắng bóng những vụ cổ phần hóa lớn. HSBC vẫn giữ quan điểm cho rằng, việc IPO những doanh nghiệp lớn trong một số ngành công nghiệp chủ chốt của Việt Nam như dầu khí, viễn thông và ngân hàng – nếu được tổ chức tốt và có mức giá hợp lý – sẽ thu hút được sự quan tâm lớn của các nhà đầu tư nước ngoài và thúc đẩy thị trường chứng khoán khởi sắc trở lại. Vụ IPO của Mobifone diễn ra vào nửa đầu năm nay có thể là dấu hiệu đầu tiên báo hiệu cho những gì sẽ xảy đến.

Thứ ba là lãi suất ngân hàng có giảm mạnh thêm nữa hay không? Mặc dù lãi suất cơ bản VND thời gian qua liên tục được giảm mạnh, nhưng lãi suất trên thị trường vẫn còn ở mức khá cao. Mặt khác, các quan chức Chính phủ vẫn đề cập thường xuyên tới những rủi ro lạm phát. (Tuy nhiên, ở phần dự báo vĩ mô, HSBC cho rằng, lạm phát ở Việt Nam sẽ giảm về mức 5% vào giữa năm nay, sau đó tăng dần trở lại. Báo cáo cũng cho rằng, tăng trưởng GDP của Việt Nam năm nay có thể chỉ đạt 5,4%, thấp nhất trong 10 năm). Lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường ngân hàng đang là 5%, còn lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm là 10%. Báo cáo nhận định, thực trạng này khiến thị trường chứng khoán phần nào giảm bớt tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong nước.

Thêm vào đó, những lo ngại về sự mất giá của VND và sự thiếu USD ở Việt Nam cũng khiến giới đầu tư nước ngoài e dè.

Thứ tư, giá cổ phiếu có rẻ hơn hay không? Mặc dù thị trường chứng khoán Việt Nam liên tục sụt giảm trong vòng hai năm trở lại đây, giá cổ phiếu vẫn chưa thể được xem là rẻ.

Hệ số P/E dựa trên các báo cáo kết quả kinh doanh công bố gần đây nhất là 9 lần. Giả định EPS năm nay giảm 10% và đứng yên vào năm tới, P/E của 12 tháng tới sẽ là 10,1 lần. Đây là mức P/E vào hàng trung bình ở châu Á: P/E của Indonesia là 8 lần, của Thái Lan là 7,2 lần. Với sự thiếu minh bạch trong vấn đề lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam, có lẽ các nhà đầu tư nước ngoài sẽ đợi hệ số P/E của thị trường Việt Nam giảm sâu mới đầu tư trở lại vào thị trường này.

Và thứ năm, liệu cơ chế đối với các nhà đầu tư trong nước có hấp dẫn hơn hay không? Một phần lý do dẫn tới sự ảm đạm của thị trường chứng khoán Việt Nam trong những tháng cuối năm 2008 là việc sẽ áp thuế thu nhập từ chứng khoán đối với các nhà đầu tư trong nước.

Nhìn chung, các chuyên gia thực hiện báo cáo này cho rằng, năm 2009 sẽ tiếp tục là một năm khó khăn nữa đối với thị trường chứng khoán khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng. Thị trường Việt Nam có thể tăng mạnh và giảm mạnh ở một số thời điểm, nhưng sẽ hầu như không đạt thành quả vào cuối năm.

HSBC dự báo, cuối năm nay, VN-Index sẽ ở mức 300 điểm, so với mức 316 điểm ở thời điểm cuối năm 2008.
=====================================================================
Trong ngày đầu tiên của năm mới, VnEconomy đã hỏi chuyện đại diện một số công ty chứng khoán về triển vọng thị trường trong năm 2009.

Gần như cùng nhận định rằng 2009 nhìn chung sẽ vẫn là một năm khó khăn với thị trường, nhưng các ý kiến có sự khác nhau nhất định trong việc nhìn nhận cơ hội cho năm tới.

Thị trường khó có động lực tăng trưởng mạnh

(Nguyễn Đức Hùng Linh, Phó giám đốc Khối Phân tích và Tư vấn đầu tư, Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn – SSI)

“Năm 2008 đã có nhiều sự kiện quan trọng có tác động lớn đến thị trường chứng khoán mà tần suất xuất hiện của các sự kiện đó phải tính bằng thập kỷ.

Đầu tiên là nguy cơ khủng hoảng kinh tế của Việt Nam vào đầu năm khi lạm phát tăng cao đột biến, thâm hụt thương mại trầm trọng và VND đứng trước nguy cơ bị phá giá mạnh.

Khi nguy cơ đó đã được kiểm soát, Việt Nam lại đứng trước một khó khăn lớn hơn và lâu dài hơn, đó là ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính mà theo nó là đà suy thoái kinh tế trên phạm vi toàn cầu.

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã phản ánh hai sự kiện lớn đó qua hai giai đoạn, giai đoạn từ đầu năm đến 15/9/2008, với mức đáy 366,02 điểm được thiết lập vào ngày 20/6/2008.

Giai đoạn thứ hai từ 15/9/2008 đến hết năm, với mức đáy mới 286.85 điểm vào ngày 10/12/2008, thấp hơn mức đáy trước 79,17 điểm, tương đương 21,6%.

Các chỉ số vĩ mô của nền kinh tế Việt Nam vào quý 4/2008 không tốt, tăng trưởng chậm có thể còn tiếp diễn cho đến ít nhất là quý 1/2009.

Chính phủ đã có những biện pháp nhanh và quyết liệt để chặn đà suy giảm kinh tế nhưng hiệu quả của các biện pháp đó vẫn là câu hỏi bởi Việt Nam chưa có kinh nghiệm để giải quyết một vấn đề tương tự và hệ thống quản lý của Việt Nam chưa thực sự minh bạch.

Năm 2009 sẽ vẫn là một năm nhiều khó khăn của Việt Nam và tăng trưởng kinh tế sẽ khó đạt được mức 6,5% như mục tiêu của Quốc hội đã đề ra.

Thiếu một nền tảng tốt, thị trường chứng khoán sẽ khó có động lực tăng trưởng mạnh”.

3 giai đoạn đáng chú ý năm tới

(Ông Tống Minh Tuấn, Phó phòng phân tích, Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt – BVSC)

“Thị trường chứng khoán trong năm 2009 có thể diễn biến tích cực khi các biện pháp nới lỏng chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước thực sự phát huy tác dụng và nhìn thấy dấu hiệu hồi phục kinh tế.

Theo dự báo, kinh tế vĩ mô có khả năng hồi phục vào giai đoạn nửa cuối năm 2009, thị trường chứng khoán có thể đi qua điểm xấu nhất tại thời điểm trước đó và có sự hồi phục sớm hơn.

Tôi cho rằng quãng thời gian tháng 2-4/2009 sẽ là thời điểm thị trường đi qua đáy xấu nhất.

Trong ngắn hạn, trước khi đi qua đáy vào thời điểm tháng 2-4/2009, thị trường có thể có một đợt sụt giảm khi chưa nhìn thấy tín hiệu hồi phục của kinh tế vĩ mô.

Dự báo, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ có ba giai đoạn chính trong năm 2009:

Giai đoạn khó khăn

Thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ gặp khó khăn nhất vào giai đoạn cuối quý 1 và đầu quý 2 năm 2009. Hai yếu tố chính ảnh hưởng tiêu cực tới thị trường trong giai đoạn này là kết quả kinh doanh và diễn biến nợ xấu.

Dự báo kết quả kinh doanh sẽ xấu nhất tại một số ngành chịu ảnh hưởng nặng bởi tình hình vĩ mô như công nghệ, viễn thông, công nghiệp, bất động sản, dịch vụ tiêu dùng, tài chính và ngân hàng. Kết quả kinh doanh này sẽ được thể hiện trong quý 1/2009.

Ngoài ra, câu hỏi lớn về dư nợ bất động sản cũng như rủi ro nợ xấu của hệ thống ngân hàng sẽ được giải quyết ở thời điểm cuối quý 1/2009, do 15% tăng trưởng tín dụng của năm 2008 được giải ngân vào thời điểm tháng 1-3.

Nhiều khả năng thị trường sẽ phản ứng khá tiêu cực vào thời điểm này và VN-Index có thể sẽ dao động xung quanh mức 300-400 điểm, tất nhiên cũng không loại trừ khả năng các nhà đầu tư phản ứng thái quá và đẩy VN-Index xuống mức dưới 300.

Với mức điểm này chỉ số P/E toàn thị trường sẽ ở mức 7-10 lần.

Giai đoạn phục hồi

Sau khi các rủi ro chính của nền kinh tế Việt Nam đã được giải quyết, ảnh hưởng từ thị trường thế giới không còn quá tiêu cực, nhiều khả năng thị trường sẽ đi vào giai đoạn phục hồi.

Trong giai đoạn này thị trường sẽ không tăng mạnh, tuy nhiên đây sẽ là giai đoạn thị trường chứng khoán thu hút lại sự quan tâm của các nhà đầu tư. Khối lượng giao dịch thường tăng mạnh trong giai đoạn này.

Trong quá khứ, thị trường chứng khoán luôn đi trước nền kinh tế vĩ mô, do đó nhiều khả năng thị trường sẽ đi vào giai đoạn tăng nhẹ và VN-Index sẽ dao động xung quanh ngưỡng 400-500 điểm trong cuối quý 2 và 3.

Với mức này P/E toàn thị trường sẽ ở mức 10-13 lần.

Giai đoạn tăng trưởng ổn định

Gần thời điểm quý 3, 4 năm 2009, khi nền kinh tế thế giới cũng như là Việt Nam bắt đầu đi vào giai đoạn ổn định. Kết quả kinh doanh của một số doanh nghiệp bắt đầu có các dấu hiệu khả quan, tuy nhiên sẽ chỉ có một số ngành được cải thiện.

Nhiều khả năng thị trường sẽ sôi động trở lại trong giai đoạn này và VN-Index sẽ dao động xung quanh mức 500-600 điểm.

Với mức này P/E toàn thị trường sẽ dao động xung quanh mức 13-15 lần (dựa trên EPS 2008).

Đây sẽ là mức phản ánh chính xác tiềm năng của nền kinh tế cũng như khả năng tăng trưởng lợi nhuận của các doanh nghiệp trong tương lai”.

Kỳ vọng sự phục hồi vào quý 3-4

(Ông Hoàng Xuân Quyến, Giám đốc Phân tích đầu tư, Công ty Cổ phần Chứng khoán Tân Việt – TVSI)

“Diễn biến của thị trường chứng khoán năm 2008 đã quá bất ngờ và không kịp phản ứng đối với các nhà đầu tư, các nhà quản lý hoạch định chính sách và cả các chuyên gia phân tích, dự báo thị trường. Không ai ngờ rằng chỉ số trên cả hai sàn đã rơi gần 70%; thị trường chứng khoán có đến 27 phiên liên tiếp giảm kịch sàn.

Chưa bao giờ lại có sự hoảng loạn như vào thời điểm tháng 5-6/2008 khi nỗi lo ngại diễn ra khủng hoảng thị trường tài chính tiền tệ ngày càng gần. Sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng cũng mạnh hơn bao giờ hết.

Đã có đến bốn lần thay đổi biên độ giao dịch để chặn đà thị trường suy giảm, sự tham gia đến ngạc nhiên của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) vào việc mua bán chứng khoán trên thị trường; rất nhiều gói giải pháp và chính sách thắt chặt tiền tệ-tín dụng được tung ra.

Nghiêm trọng hơn, nền kinh tế chúng ta lại chịu tác động của suy thoái kinh tế sâu sắc trên phạm vi toàn cầu. Gánh nặng này một lần nữa lại trút lên thị trường chứng khoán.

Tựu trung lại, năm 2008 chúng ta đã chứng kiến, cảm nhận về sự khốc liệt của thị trường mà đại bộ phận các nhà đầu tư phải gánh chịu sự thất thoát thua lỗ quá sức. 2008 là năm chúng ta phải trả giá cho những gì mà thị trường vận hành chưa đúng trong năm 2007.

Thua thiệt nhất vẫn là nhà đầu tư chứng khoán và các bài học rút ra rất thấm thía và đau đớn. Tin chắc rằng các nhà quản lý thị trường cũng sẽ rút ra nhiều bài học bổ ích mà bài học lớn nhất là các biện pháp hành chính can thiệp thị trường dường như mang lại hiệu quả rất thấp và thị trường chứng khoán rất cần sự minh bạch.

Nhìn về năm 2009, đại đa số chúng ta đều có chung cảm nhận lạc quan hơn. Dường như những gì là tồi tệ nhất đã diễn ra trong năm 2008 và năm 2009 sẽ bắt đầu hồi phục để lấy đà tăng trưởng bền vững cho giai đoạn 2010-2015.

Tại thời điểm này, chúng ta chưa kỳ vọng nhiều bởi lẽ thị trường chứng khoán có tốt lên hay không phải nhìn vào thực lực tăng trưởng của nền kinh tế và chất lượng tăng trưởng của các công ty đang niêm yết.

Nhưng nền kinh tế của chúng ta đã hội nhập khá sâu khi mà kim ngạch xuất nhập khẩu tương đương 160% GDP và có đến 40% giá trị xuất nhập khẩu do các doanh nghiệp FDI mang lại.

Vì vậy thị trường chứng khoán còn phụ thuộc vào sự phục hồi nhanh hay chậm của nền kinh tế bên ngoài.

Khả năng cao là thị trường chứng khoán phải trải qua giai đoạn thăm dò kết quả kinh doanh quý 4/2008 của các công ty niêm yết và thận trọng với những dự đoán điểm đáy của nền kinh tế thế giới – có lẽ rơi vào quý 1/2009.

Cùng với độ trễ của chính sách tiền tệ linh họat và kích cầu tiêu dùng – đầu tư, chúng ta có thể kỳ vọng về sự tốt lên của thị trường chứng khoán vào quý 3-4 năm 2009.

Kỳ vọng thì nhiều nhưng theo tôi việc có ý nghĩa thiết thực nhất giúp ích nhiều nhất cho nhà đầu tư chứng khoán hạn chế rủi ro chính là sự minh bạch của các chính sách thực thi, quy tắc và thể chế điều hành thị trường; minh bạch, bình đẳng, công bằng và kịp thời các thông tin công bố của doanh nghiệp niêm yết mà điều này cho thấy có ít sự tiến bộ trong năm 2008”.

Cá nhân tôi lạc quan

(Ông Lê Chí Phúc, Trưởng phòng Phân tích và Tư vấn, Công ty Chứng khoán VNDirect)

“Đã có quá nhiều biến cố đặc biệt diễn ra với thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2008, tuy nhiên nếu phải tổng kết một điểm đáng chú ý nhất tôi nghĩ đó chính là sự sụt giảm kỷ lục của giá cổ phiếu – VN-Index và HASTC Index giảm gần 70% so với đầu năm.

Điều này chưa từng diễn ra ở Việt Nam và cũng không có nhiều thị trường chứng khoán trên thế giới từng có mức sụt giảm mạnh như vậy. Chỉ số S&P của Mỹ tổng kết trong hơn 100 năm qua cũng chỉ mới có một lần giảm tới 50%/năm.

Như thế để thấy thị trường chứng khoán cũng như nền kinh tế Việt Nam đã quá nóng trong năm 2007, và sau đó là sự xì hơi của bong bóng chứng khoán, bất động sản do tác động của lạm phát, lãi suất, tỷ giá, và khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Nhà đầu tư, các công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư chứng khoán đã phải trải qua một năm quá khắc nghiệt. Thiệt hại vật chất rất lớn nhưng cũng thu về rất nhiều bài học, là hành trang cần thiết cho những năm sau.

Sở dĩ tôi chọn sự sụt giảm mạnh của giá cổ phiếu là tiêu điểm năm 2008 chính là để hướng về năm 2009. Kết thúc năm 2008, nhiều đánh giá xấu về nền kinh tế cũng như kết quả kinh doanh của doanh đã được phản ánh vào giá cổ phiếu.

Cá nhân tôi lạc quan về triển vọng của thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm tới. Rủi ro vẫn còn nhưng đan xen với nó là những cơ hội. Những nhà đầu tư biết lựa chọn đúng cổ phiếu sẽ có một năm 2009 thành công”.
=====================================================================
Đến thời điểm này, kết quả kinh doanh 2008 không còn nhiều ý nghĩa và dòng tiền lưỡng lự đứng ngoài thị trường chứng khoán trước mối lo ngại về triển vọng của các doanh nghiệp niêm yết trước thách thức của môi trường kinh doanh 2009.

Phiên giao dịch đầu tiên của thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009 đã diễn ra trong sự ngập ngừng và giá trị khớp lệnh thấp kỷ lục kể từ giữa tháng 7/2008 đến nay.

Khó có “sóng” từ kết quả kinh doanh 2008

Thị trường chứng khoán năm 2009 mở đầu với một phiên giao dịch có thể coi là tẻ nhạt khi rất ít nhà đầu tư tham gia giao dịch. Tổng giá trị khớp lệnh sàn HOSE chỉ đạt 115,5 tỷ đồng và sàn HASTC đạt 62,5 tỷ đồng. VN-Index chào năm mới với mức 313,34 điểm, giảm 2,28 điểm; HASTC-Index giảm 0,65 điểm xuống mức 104,47 điểm.
Khó có “sóng” từ kết quả kinh doanh 2008.
Điều đáng quan ngại nhất là sức mua rất yếu trên cả hai sàn cho thấy sự thiếu nhiệt tình của nhà đầu tư.

Theo thông tin từ HOSE, không nhiều công ty công bố kết quả kinh doanh theo từng tháng để nhà đầu tư nắm được diễn biến sức khỏe thực sự của từng doanh nghiệp.

Việc các doanh nghiệp niêm yết thông báo điều chỉnh giảm kế hoạch doanh thu 2008 ngày càng phổ biến cho thấy sự chuyển hướng từ phía lãnh đạo doanh nghiệp trước sự biến động của thị trường. Danh nghiệp có thể chịu đựng ở mức nào là câu hỏi thường trực của nhà đầu tư.

Thực tế không ít doanh nghiệp ngay từ báo cáo quý 3/2008 đã cho thấy khả năng đạt và vượt kế hoạch năm – một con số hết sức ý nghĩa trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp điều chỉnh giảm mục tiêu lợi nhuận.

Tuy nhiên, điều quan trọng đối với nhà đầu tư là liệu mức lợi nhuận đó có thực sự thể hiện sức khỏe của doanh nghiệp và có duy trì được trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2009 hay không.

Ví dụ rất tiêu biểu là một doanh nghiệp niêm yết sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng đã cho thấy tiềm năng vượt kế hoạch năm 2008 ngay từ quý 2. Cổ phiếu của doanh nghiệp này đã có cuộc lội ngược dòng ngoạn mục và đạt mức tăng mạnh nhất thị trường.

Tuy nhiên, nếu phân tích cụ thể các báo cáo tài chính có thể thấy, lợi thế về biến động nguyên liệu, hàng tồn kho giá rẻ từ 2007 và giá cả đầu ra tăng cao là sức bật chính của doanh nghiệp, đóng góp vào mức lợi nhuận đột biến.

Đây cũng là điều khiến thị trường lo ngại khi kết quả kinh doanh 2008 thực tế có một phần không nhỏ từ lợi thế thị trường đầu năm trong khi chỉ số lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) tính theo quý giảm dần.

Điều này thể hiện sự thiếu bền vững trong kết quả kinh doanh. Lợi thế đó mang tính thời điểm và sẽ không còn phát huy tác dụng trong năm 2009.

Không nhiều kỳ vọng?

Phân tích về xu hướng thị trường phiên đầu năm, rất nhiều công ty chứng khoán quan ngại về sự thờ ơ của nhà đầu tư, thể hiện là giá trị giao dịch rất thấp.

Lý giải về hiện tượng này, những căn cứ được đưa ra là sự chờ đợi một phản ứng rõ ràng hơn về việc áp thuế thu nhập từ hoạt động đầu tư chứng khoán và tác động của việc nghỉ lễ tới tính thanh khoản.

Theo Công ty Chứng khoán Thăng Long, quy mô lệnh khá nhỏ, nhà đầu tư tranh thủ chốt lời nhưng hạn chế chào bán ở mức giá giảm trong khi lệnh mua cũng không nhiều và chỉ chấp nhận mua vào ở mức giá thấp. Phần lớn các chỉ báo đều quay đầu giảm điểm cùng với lượng giao dịch giảm mạnh là tín hiệu của xu thế đi xuống hình thành.

Công ty Chứng khoán Vincom thì cho rằng việc nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục mua vào mạnh, trong đó tập trung vào các mã có giá trị vốn hóa lớn sẽ tạo cơ sở cho nhóm nhà đầu tư dài hạn và nâng đỡ VN-Index ở mức 300 điểm.

Tuy nhiên, diễn biến chung là những phiên đầu năm sẽ khó xác định xu hướng do các bộ phận tham gia thị trường đều trong trạng thái chờ đợi một hướng đi rõ ràng hơn.

Dự báo ngắn hạn của Công ty Chứng khoán FPT là thị trường sẽ tiếp tục trầm lắng, đi ngang và giảm nhẹ trong tuần này và tính thanh khoản khó có thể cải thiện ngay.

Những dự báo không mấy lạc quan về thị trường cho thấy sự quan ngại nhất định từ triển vọng hoạt động doanh nghiệp trong những tháng tới, đặc biệt là phải có những thông tin rõ ràng hơn.

Xét về phân tích cơ bản, hầu hết các báo cáo về triển vọng kinh tế những thị trường xuất khẩu chính của doanh nghiệp trong nước đều u ám khi năm 2009 được dự báo là năm khốc liệt khi cơn lốc suy giảm kinh tế tràn qua những thị trường nhập khẩu trọng điểm như Mỹ, EU, Nhật.

Đối với thị trường trong nước, cơ hội tăng trưởng hoàn toàn trông chờ quyết sách của Chính phủ với gói hỗ trợ kích cầu nội địa.

Tại thông điệp đầu năm của Thủ tướng, Chính phủ dự kiến dành khoảng 17 ngàn tỷ đồng để bù khoảng 40% lãi suất vay thương mại nhằm huy động vốn tín dụng với lãi suất thấp (khoảng 400 ngàn tỷ đồng với chu kỳ cho vay 1 năm) để hỗ trợ các doanh nghiệp, không phân biệt thành phần kinh tế.

Duy trì tăng trưởng kinh tế sẽ là động lực lớn nhất cho thị trường chứng khoán và thị trường đang chờ đợi những số liệu cụ thể hơn xác thực sức bật từ doanh nghiệp niêm yết.
====================================================================
Chiến lược đầu tư năm 2009: Chú trọng bảo toàn vốn
02/02/2009
Đến giữa năm 2009 các chính sách kinh tế của Chính phủ mới phát huy tác dụng, do vậy chiến lược đầu tư trong thời gian tới nên là bảo toàn vốn.

Trong một báo cáo mới đây của Công ty chứng khoán VCSC (công ty chứng khoán Bản Việt) đã đưa ra chiến lược đầu tư cho nhà đầu tư trong năm 2009 với việc đưa ra các tiêu chí quan trọng trong chiến lược đầu tư cho thời gian tới sẽ là bảo toàn vốn.

Theo đó, VCSC phân tích việc phân bổ tài sản theo ba khía cạnh khác nhau: thứ nhất, phân bổ giữa các nhóm tài sản khác nhau cụ thể là giữa tiền, trái phiếu và chứng khoán. Thứ hai, phân bổ dựa trên các kiểu đầu tư khác nhau. Và cuối cùng, phân bổ giữa các nhóm ngành khác nhau.

VCSC khẳng định: Quý I/2009 sẽ là thời điểm thị trường tiếp tục biến động và điều chỉnh do các thông tin về kết quả kinh doanh năm 2008 được công bố dự kiến không có nhiều khả quan đột biến.

Quý II/2009 sẽ là thời điểm tích luỹ của thị trường trong khi chờ đợi các chuyển biến của vĩ mô.

Việc mở rộng tín dụng, chính sách nới lỏng tiền tệ cùng với chính sách kích cầu được đưa ra vào cuối năm 2008 sẽ bắt đầu phát huy tác dụng do đỗ trễ của các chính sách thường là khoảng 6 tháng.

Như vậy, xu hướng ổn định của thị trường chỉ có thể bắt đầu từ quý III khi các dấu hiệu phục hồi được thể hiện ro hơn.

Mức phân bổ giữa cổ phiếu, trái phiếu và tiền mặt được dựa trên các mức độ chấp nhận rủi ro và thời gian nắm giữ danh mục của các nhà đầu tư khác nhau.

Việc tăng nắm giữ cổ phiếu chỉ phù hợp với các nhà đầu tư chấp nhận rủi ro cao và thời hạn nắm giữ cổ phiếu trên một năm.

Đối với các nhà đầu tư chấp nhận rủi ro ở mức bằng và trên trung bình VCSC khuyến nghị nên giữ tiền mặt hơn và giảm tỷ trọng hơn đầu tư vào trái phiếu. Nguyên nhân chính không phải vì tiền mặt đem lại lợi nhuận cao hơn trái phiếu, mà là việc nhà đầu tư có thể linh hoạt dùng tiền để đầu tư trở lại vào thị trường chứng khoán.

Đối với các nhà đầu tư thận trọng hơn, có mức chấp nhận rủi ro thấp hơn vẫn khuyến nghị đầu tư chủ yếu vào trái phiếu do đây là một kênh đầu tư an toàn cho mục đích bảo toàn vốn với một tỷ suất lợi nhuận hợp lý.

Với tỷ lệ đầu tư nhất định vào trái phiếu trong danh mục khuyến nghị đầu tư vào các loại trái phiếu có kỳ hạn dưới 2 năm.

Trong dài hạn và với khả năng chấp nhận rủi ro cao hơn, cổ phiếu vẫn là một kênh đầu tư hấp dẫn do trung bình lợi nhuận kỳ vọng từ việc đầu tư chứng khoán sẽ cao hơn lợi nhuận từ việc đầu tư vào trái phiếu hay nắm giữ tiền mặt.

Vì thế, đối với chiến lược đầu tư dài hạn khuyến nghị tăng tỷ trọng đầu tư vào cổ phiếu.

VCSC phân loại cổ phiếu theo hai yếu tố: quy mô và giá trị. Qua nghiên cứu và thống kê thị trường, các cổ phiếu tăng trưởng luôn có biểu hiện tốt hơn các cổ phiếu giá trị.

Từ đó, VCSC khuyến nghị đầu tư vào những ngành và các cổ phiếu mang tính chất phòng thủ và ít bị ảnh hưởng bởi tính chất chu kỳ, nhằm giảm thiểu rủi ro về các biến động của thị trường.

Các ngành khuyến nghị xem xét tăng tỷ trọng đầu tư bao gồm: dược, thực phẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu và điện.
================================================================
Nhìn nhận từ các yếu tố vĩ mô cho thấy, chưa thấy tín hiệu lạc quan nào cho thị trường này trong những tháng đầu năm 2009.
Có lẽ, 2009 là một năm bi quan đến với các nhà đầu tư (NĐT) chứng khoán. Đắng lòng, chán nản khi nhìn danh sách các các công ty niêm yết lỗ trong quý 4/2008. Bất động sản còn “nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm” nhưng chứng khoán thì chưa. “Bao giờ cho lại ngày xưa”, “gắng sống đến bình minh”… là tâm trạng chung của các NĐT nhỏ, lẻ.

Chưa thấy cơ hội

Trong danh mục các khoản vay ngắn hạn ngân hàng bằng VND được Chính phủ cấp bù 4% mức lãi suất (LS) thì đầu tư và kinh doanh chứng khoán không được hưởng mức cấp bù này.

Đối với lĩnh vực bất động sản (BĐS) thì chỉ các khoản vay kinh doanh dưới hình thức mua, bán quyền sử dụng đất là không thuộc đối tượng được cấp bù lãi suất. Sau khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho phép được thực hiện lãi suất thỏa thuận đối với cho vay tiêu dùng, một số ngân hàng đã công bố các gói tín dụng hàng trăm, thậm chí hàng nghìn tỷ đồng cho vay trả góp mua nhà ở, đất ở.

Như vậy, có thể thấy là thị trường BĐS đã bắt đầu có vốn tín dụng sẵn sáng đổ vào. Trong khi đó, định hướng tín dụng của các ngân hàng thương mại (NHTM) năm 2008 cho đến nay và có thể hết năm 2009 thì đầu tư chứng khoán cũng là lĩnh vực bị liệt vào danh sách hạn chế tín dụng (gần như ngừng hẳn).

Hầu như chắc chắn trong năm 2009 này, các dòng vốn (đầu tư nước ngoài, tín dụng) vào thị trường chứng khoán (TTCK) sẽ rất ít ỏi. Nguồn vốn vào TTCK chủ yếu là tiền của các NĐT. Dòng tiền này không nhiều, chỉ có một phần nhỏ trong số tiền nhàn rỗi của các NĐT giành ra để đầu tư vào một số ít loại cổ phiếu có tiềm năng lên giá mạnh (kiếm lời lớn) khi thị trường phục hồi.

Dòng tiền sẽ đổ về đâu?

Khi được hỏi là có nhiều khách đến rút tiền khỏi tài khoản không, cô nhân viên kế toán của Công ty Chứng khoán N. cười buồn “ Còn tiền đầu mà rút”.

Những NĐT còn “kẹt” lại trên TTCK chỉ còn hai lựa chọn. Một là đành nắm giữ trong “mong đợi ngậm ngùi”, hai là hy vọng có những phiên điều chỉnh tăng để bán ra thu tiền về. Ngay cả khả năng bán ra trong thời gian tới cũng không dễ. Chỉ những cổ phiếu nào có kết quả kinh doanh quý 4/2008 lãi cao thì còn khả năng thanh khoản.

Vấn đề ở đây là những dòng tiền tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, dòng tiền này bao giờ cũng chảy từ kênh đầu tư này sang kênh đầu tư khác khi thấy có lợi nhuận. Đó là các kênh gửi tiết kiệm, đầu tư vàng và USD, chứng khoán, BĐS.

Ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại cho rằng trong điều kiện TTCK và thị trường BĐS đang trì trệ, chưa có dấu hiệu phục hồi sớm thì gửi tiết kiệm, mua vàng và USD được người dân hướng đến và luôn có sự so sánh.

Trong 3 kênh còn lại này, sau khi NHNN công bố hạ lãi suất cơ bản về 7%/năm thì ngay trong đầu tháng 2/2009 này, lãi suất tiết kiệm VND cũng bị các NHTM giảm mạnh, một số đã về dưới 7%/năm.

Nếu thời gian tới nền kinh tế vẫn trong tình trạng khó khăn, hoạt động tín dụng không mở rộng được thì lãi suất tiền gửi sẽ tiếp tục bị hạ thấp nữa (vì các ngân hàng không cần nhiều vốn). Vì vậy, tiết kiệm sẽ không còn là kênh đầu tư hấp dẫn nữa, nhưng chứng khoán cũng không có khả năng hút vốn của NĐT vì sự ảm đạm của thị trường.

Khi nào lại đến thời của chứng khoán?

Thời điểm tháng 11/2008, Phó Tổng giám đốc một NHTM lớn của TP. HCM cho biết, Công ty chứng khoán của ngân hàng ông dự định sẽ giải ngân khi VN-Index về mốc 300 điểm nhưng tình hình cho thấy phải dưới mốc 250 thì mới có thể giải ngân được.

Đến bây giờ ngân hàng của ông này vẫn giữ quan điểm như vậy. Anh Thủy (NĐT) nói: “ Khi nào nhiều doanh nghiệp công bố phá sản, niềm tin thị trường gần như không còn gì thì lúc đó mới là lúc giải ngân vào chứng khoán”.

Còn Ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia thì cho rằng TTCK tiếp tục đình trệ và có thể phục hồi chậm chạp vào nửa sau năm 2009. Người ta biết rằng TTCK là hàn thử biểu của nền kinh tế. Vì vậy, chỉ khi nào nền kinh tế có dấu hiệu hồi phục và tăng trưởng thì TTCK mới thật sự hồi phục (có thể ở thời điểm trước một chút).

Vì vậy, vấn đề mà các NĐT cần nhận định ở đây là bao giờ thì nền kinh tế hồi phục? Nửa năm sau 2009 hay muộn hơn? Nhiều người Việt Nam khá lạc quan vào thời điểm hồi phục sớm của nền kinh tế đất nước. Nhưng chuyên gia kinh tế của một số nước phát triển vẫn có một phương án thứ ba là chỉ đến năm 2011 hoặc muộn hơn thì kinh tế thế giới mới tăng trưởng trở lại.
=====================================================================
“Xu hướng giảm sút vốn đầu tư nước ngoài là rõ ràng”
04/02/2009
Tuy nhiên, mức độ giảm sút sẽ phụ thuộc vào phản ứng của Chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam trước sự suy giảm kinh tế toàn cầu và kinh tế trong nước.

Nhận định này được ông Jim Hassett, Chủ tịch Tập đoàn Ernst & Young khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đưa ra trong cuộc trao đổi mới đây với báo giới.

Điều then chốt là duy trì sự ổn định

Đánh giá về khả năng tác động tới Việt Nam của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay, ông Jim Hassett nói:

- Nền kinh tế thế giới đã thay đổi ghê gớm từ nhiều tháng qua. Cuộc khủng hoảng tài chính đã biến thành khủng hoảng toàn cầu. Trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay, không có một quốc gia nào có thể thoát khỏi sự tác động của nó.

Các nước đang phát triển đứng trước nguy cơ bị hạn chế tiếp cận các nguồn vốn cho thuơng mại và đầu tư. Sau gần 3 thập kỷ, ngành thuơng mại thế giới đuợc dự báo sẽ lần đầu tiên sụt giảm trong năm 2009. Mức tăng trưởng GDP thực đuợc uớc tính sẽ chững lại trên toàn thế giới. Cứ giảm 1% tăng trưởng có thể dẫn tới 20 triệu nguời lâm vào cảnh nghèo, theo ước tính của Ngân hàng Thế giới.

Mức độ tác động sẽ thay đổi theo từng quốc gia, những cuối cùng đều dẫn đến hậu quả là giảm nguồn thu và kim ngạch xuất khẩu, cũng như giảm nguồn vốn đầu tư nhất là của nước ngoài.

Doanh thu xuất khẩu của Việt Nam chiếm khoảng 80% tổng nguồn thu của cả nước, trong đó sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là hàng hóa. Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) lên đến hơn 64 tỷ USD vốn đăng ký trong năm 2008 là nhân tố then chốt thúc đẩy mức tăng truởng kinh tế của Việt Nam đạt mức trung bình 7,5% trong thập niên vừa qua.

Thị truờng chứng khoán Việt Nam năm 2008 giảm tới 70%, là sự suy giảm rõ rệt nhất trong các thị truờng châu Á hiện nay. Tất cả những điều này đều khẳng định một sự thật là Việt Nam đã và đang tiếp tục bị tác động bởi cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu này.

Đáng chú ý là ngành tài chính Việt Nam lại không bị ảnh hưởng nhiều, bởi chưa hội nhập nhiều vào thị truờng tài chính thế giới. Nhưng trước hết, chúng ta sẽ chứng kiến sự ảnh hưởng đến nền kinh tế thông qua những khó khăn trong xuất khẩu, du lịch, nguồn vốn và việc làm.

Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có dấu hiệu chậm lại hoặc rút bớt. Ông nhận định thế nào về xu hướng này trong năm 2009?

Tôi cho rằng xu hướng giảm sút vốn FDI và FII là rõ ràng trong năm 2009. Tuy nhiên, mức độ giảm sút sẽ phụ thuộc vào phản ứng của Chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam trước sự suy giảm kinh tế toàn cầu và kinh tế trong nước.

Việc duy trì mức vốn FDI đăng ký là 64 tỷ USD mà Việt Nam đã thu hút trong năm 2008 là một thách thức quá lớn.

Việt Nam cần nhìn nhận đây là thời điểm mà các nhà đầu tư trên toàn thế giới phải xem xét danh mục đầu tư và địa điểm đầu tư của mình.

Do niềm tin của nhà đầu tư vẫn còn rất quan trọng, thì một điều then chốt đối với Việt Nam là duy trì sự ổn định kinh tế – xã hội và tránh sụp đổ thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản và hệ thống ngân hàng.

Chính phủ Việt Nam đã có một số bước đi khôn ngoan

Ông đã quan sát các chính phủ và các công ty trong khu vực đối phó với tình trạng suy thoái này như thế nào?

Tôi đã chứng kiến hầu hết các chính phủ ở khu vực châu Á đang áp dụng những chính sách khuyến khích như giảm thuế, bơm tiền vào nền kinh tế thông qua các gói kích cầu…

Tôi nghĩ rằng Chính phủ Việt Nam đã có một số bước đi khôn ngoan, bao gồm cả gói kích thích kinh tế trị giá 1 tỷ USD thông qua bù lãi suất cho doanh nghiệp vay vốn đuợc công bố gần đây.

Tôi nghĩ sự hỗ trợ đó là rất sáng suốt và cách tiếp cận cũng phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay. Các ngân hàng Việt Nam không bị ảnh hưởng nhiều, mà là các doanh nghiệp vừa và nhỏ là bộ phận lớn nhất trong khối doanh nghiệp Việt Nam; theo đó, Chính phủ đã trực tiếp hỗ trợ cho khối này.

Hỗ trợ họ trong xuất khẩu, kinh doanh cũng chính là tạo việc làm. Việc Chính phủ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận tín dụng trong điều kiện khó khăn hiện nay là cách làm sáng suốt, khác với cách làm ở Mỹ là khối ngân hàng tài chính bị khủng hoảng trước tiên và Chính phủ Mỹ đã hỗ trợ cho khối này.

Tất nhiên ở đây có khía cạnh rủi ro của nó. Chính phủ là người tung ra tiền, khi có sự can thiệp như vậy có thể dẫn đến rủi ro trong những năm tới mà khó có thể tiên liệu được.

Tôi nghĩ rằng do sự thiếu hụt nguồn tín dụng, nên những vấn đề như hiệu quả về chi phí, quản lý rủi ro… sẽ đựợc xem là trọng điểm quan trọng.

Tính minh bạch là nền tảng quyết định niềm tin

Theo ông, khả năng phục hồi của kinh tế toàn cầu sẽ như thế nào và đâu là những nhân tố then chốt?

Chúng tôi hy vọng rằng nền kinh tế sẽ phục hồi vào cuối năm 2009 và cho đến truớc năm 2010 sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu sẽ bắt đầu trở lại.

Tuy nhiên, điều này còn phụ thuốc nhiều vào việc nhà nuớc và doanh nghiệp đối phó như thế nào với tình hình suy thoái hiện nay.

Tôi nghĩ có ba nhân tố then chốt để giúp nền kinh tế phục hồi. Truớc tiên, cần phải tập trung đổi mới phương thức mà các doanh nghiệp quản trị rủi ro khi họ phải đương đầu với tình trạng suy thoái tài chính.

Thứ hai, tính minh bạch là nền tảng quyết định niềm tin của nhà đầu tư. Ở đây là thông tin chính xác hơn và nhiều hơn nguồn thông tin có liên quan – không nhất thiết khối lượng thông tin phải nhiều hơn.

Các nhà đầu tư cần có khả năng hiểu được rõ ràng quan điểm của ban lãnh đạo, để kết nối các điểm và xem xét thông tin bao quát. Báo cáo tài chính minh bạch sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư và các bên liên quan một hình ảnh đáng tin cậy, rõ ràng và thích hợp về các điều kiện kinh tế hiện tại và rủi ro mà công ty phải đối mặt…

Thứ ba, hợp tác toàn cầu là một điều cần thiết, không phải là một thứ xa xỉ, trong bối cảnh các thị trường kết nối và phụ thuộc lẫn nhau như hiện nay.

Cuộc khủng hoảng đã càng khẳng định tầm quan trọng của hợp tác và phối hợp quốc tế. Chúng tôi đã chứng kiến các ngân hàng trung ương hành động nhịp nhàng, phối hợp với nhau để cắt giảm lãi suất và nâng cao tính thanh khoản của tất cả các đồng tiền chủ yếu và chính phủ các nước trong nhóm kinh tế G-20 đã nhóm họp trong tháng 11/2008 để thống nhất các nguyên tắc chung thực hiện phục hồi kinh tế và một kế hoạch chung cho các hành động tức thời và trong trung hạn.

Điều này là rất quan trọng bởi các biện pháp giải cứu áp dụng ở duy nhất một quốc gia không thể giải quyết được tất cả các vấn đề toàn cầu mang tính hệ thống và có mối liên kết chặt chẽ.

Việt Nam cần đẩy mạnh cổ phần hóa

Về thị trường vốn của Việt Nam hiện nay, ông có đánh giá gì không?

Đó là một thị trường còn rất non trẻ tại Việt Nam, do đó nó rất dễ bị tác động bởi biến động trong kinh tế trong nước và toàn cầu.

Chỉ số thị trường chứng khoán Việt Nam suy giảm gần 70% trong năm ngoái là một ví dụ. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài trong thời điểm hiện nay có xu hướng co lại và có thể sẽ giảm xuống hơn nữa trong năm 2009 và thậm chí là năm 2010, nếu tốc độ phục hồi của nền kinh tế thế giới chậm hơn dự kiến.

Trong dài hạn, khi tỷ lệ tăng trưởng GDP được các tổ chức kinh tế quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự đoán là khả quan, tôi tin tưởng rằng Việt Nam có rất nhiều cơ hội thu hút vốn FDI và FII và phát triển thị trường vốn lên cấp độ cao hơn.

Với thị trường chứng khoán Việt Nam, ông nhận định thế nào về khả năng phát triển trong những năm tới?

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua một giai đoạn phát triển quá nóng như Trung Quốc. Tuy nhiên, sự suy giảm của thị trường lại sâu nhất tại khu vực châu Á năm 2008.

Tôi cho rằng, để tạo điều kiện cho thị trường phục hồi trong năm 2009, cũng như sự phát triển trong dài hạn, Chính phủ cần đẩy mạnh quá trình cổ phần hoá.

Hiện tại, không có công ty niêm yết nào của Việt Nam có giá trị vốn hoá thị trường trên 1 tỷ USD mà các nhà đầu tư nước ngoài có thể mua được cổ phần. Trên thực tế, chỉ có 5 công ty niêm yết là có giá trị vốn hoá thị trường trên 500 triệu USD trở lên và vẫn còn chỗ cho họ, nhưng chỉ phù hợp với các quỹ đầu tư nhỏ.

IPO các tập đoàn, công ty lớn trong các lĩnh vực chủ chốt của Việt Nam, bao gồm dầu khí, viễn thông và ngân hàng, nếu được tổ chức tốt, sẽ thu hút mức độ quan tâm rất cao từ các nhà đầu tư nước ngoài, nhờ vậy mà làm cho thị trường thành công hơn.

Thêm nữa, các cơ quan quản lý thị trường phải tăng cường sự minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm yết. Một trong những vấn đề chính của thị trường chứng khoán Việt Nam chính là thiếu sự minh bạch của các báo cáo tài chính. Bên cạnh đó, chỉ có báo cáo tài chính năm là được kiểm toán và sự mất mát bất ngờ các tài sản quan trọng chỉ được thông báo vào thời điểm cuối năm.

Ông có nói đến yêu cầu thúc đẩy cổ phần hóa, IPO doanh nghiệp lớn… Nhưng nhiều nhận định cho rằng bối cảnh hiện nay rất khó để thực hiện?

Đúng là hoạt động IPO đã giảm sút hơn một nửa kể từ năm 2007. Trong 11 tháng đầu năm 2008, có 745 đợt IPO trên toàn thế giới đã thu được số vốn là 95,3 tỷ USD. Trong khi đó, cùng kỳ năm 2007, 1.790 đợt IPO đã thu được 256,9 tỷ USD.

Số liệu thống kê cho cả năm 2008 được dự đoán là cũng chung với xu thế giảm sút này trong tương quan so sánh với số đợt IPO kỷ lục là 1.979 đợt với tổng số vốn huy động là 287,1 tỷ USD trong năm 2007. Ước tính trong năm 2008 có 298 vụ IPO đã hoãn hoặc rút giấy phép thực hiện so với con số 167 trong năm 2007…

Tôi cho rằng hiện nay, các điều kiện thử thách trên thị trường tác động đến niềm tin và sự tự nguyện của các nhà đầu tư để đưa cổ phiếu ra thị trường. Tuy nhiên, mặc dù có sự sụt giảm cổ phiếu niêm yết trên thực tế, việc các công ty chuẩn bị thực hiện chuyển tiếp từ công ty tư nhân thành công ty có cổ phiếu niêm yết trên thị trường vẫn còn mạnh.

Rõ ràng là chúng ta khó dự đoán khi nào hoạt động IPO sẽ phục hồi và thị trường vốn cần ổn định đầu tiên để xây dựng lại niềm tin. Tuy nhiên, nhiều công ty sẽ sử dụng các điều kiện thị trường hiện có để cơ cấu lại và chuẩn bị mọi nguồn lực sẵn sàng để tận dụng lợi ích một khi cánh cửa IPO lại mở ra.
=========================================================================
Chứng khoán Việt Nam chưa thu hút được các quỹ lớn
04/02/2009
Nhìn nhận lại TTCK Việt Nam chưa có công ty nào có giá trị vốn hóa trên 1 tỷ USD cho các quỹ đầu tư lớn để ý. Do vậy nó “nóng” nhanh, giảm cũng nhanh và sâu.
Thị trường chứng khoán Việt Nam chưa có công ty niêm yết nào có giá trị vốn hóa trên 1 tỷ USD mà các nhà đầu tư nước ngoài có thể mua được cổ phần.

Chỉ có 5 công ty niêm yết có giá trị vốn hóa trên 500 triệu USD và vẫn còn chỗ cho các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, những cổ phần này chỉ phù hợp với các quỹ đầu tư nhỏ.

Đây là nhận định của ông Jim Hassett – Chủ tịch Ernst & Young khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Theo ông Jim Hassett, thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua một giai đoạn phát triển quá nóng.

Tuy nhiên, sự suy giảm của thị trường lại là sự suy giảm sâu nhất trong các thị trường chứng khoán châu Á năm 2008.

“Để tạo điều kiện cho sự phục hồi của thị trường trong năm 2009 cũng như trong dài hạn, tôi nghĩ, Chính phủ cần đẩy mạnh quá trình cổ phần hoá. Việc IPO các tập đoàn, công ty lớn trong các lĩnh vực chủ chốt của Việt Nam, bao gồm dầu khí, viễn thông và ngân hàng, nếu được tổ chức tốt, sẽ thu hút mức độ quan tâm rất cao từ các nhà đầu tư nước ngoài”- ông Jim Hassett nói.

Theo ông Jim Hassett, Việt Nam cần nhìn nhận đây là thời điểm mà các nhà đầu tư trên toàn thế giới phải xem xét lại danh mục đầu tư và địa điểm đầu tư của mình.

Niềm tin của nhà đầu tư là rất quan trọng, vì vậy, một điều then chốt đối với Việt Nam là duy trì sự ổn định kinh tế xã hội và tránh sụp đổ thị trường chứng khoán, bất động sản và hệ thống ngân hàng.

Nhận định về gói giải pháp chống khủng hoảng mà Việt Nam đang thực hiện, ông Jim Hassett cho rằng, hầu hết các chính phủ ở khu vực đang áp dụng những chính sách khuyến khích như giảm thuế, bơm tiền vào nền kinh tế thông qua các gói kích cầu.

Ông khẳng định: “Tôi nghĩ rằng Chính phủ Việt Nam đã có một số bước đi khôn ngoan, bao gồm cả gói kích thích kinh tế trị giá 1 tỷ USD đã được công bố”.
=========================================================================

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: